Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Monday, August 15, 2011

CHỮ HIẾU Ở NHÀ QUÊ


CH HIU NHÀ QUÊ
                 Lương Thư Trung


Phàm làm con là phải hiếu đạo. Phép xử thế của người nhà quê là thế. Không hiếu đạo là kẻ vô nghì, bị chòm xóm láng giềng khinh miệt, chê cười là đứa con bất hiếu. Không tách rời khỏi láng giềng mà như bị cô lập giữ dòng sống nơi thôn xóm vốn lấy tình thân ái làm mối dây giao tiếp. Xem vậy từ cổ chí kim nơi thôn dã coi đạo hiếu là đạo trọng, là nền tảng mọi đạo đức của con người. Dù tiền muôn bạn vạn, lúa vựa lúa kho, ruộng vườn cò bay mỏi cánh mà ăn ở với cha mẹ không hiếu thảo, đứa con bất hiếu coi như đồ bỏ đi nói gì đến vật chất bạc tiền lúa ruộng trâu bò chỉ là vật ngoài thân chết rồi phủi hai bàn tay trắng chẳng mang theo được gì mà còn bị bia miệng để đời.
Ở nhà quê, phần đông chuyên việc đồng áng, ít ham học như dân chợ búa thành thị. Nên dân quê phần đông ít học. Thế hệ già lại càng ít người biết chữ quốc ngữ. Họa hoằn lắm mới có người học tới lớp nhất lớp nhì, nhưng đa phần lại chịu khó học chữ Hán. Chữ Hiếu nơi thôn quê được hiểu biết qua các ông đồ dạy chữ Nho mà quyển Minh Tâm Bửu Giám là một cuốn sách lúc nào cũng được lật tới lật lui tối ngày, nên ngày xưa người nhà quê phải chẻ hai miếng tre mỏng kẹp cái gáy cho sách đừng bị rách. Do vậy, đạo Hiếu ở nhà quê một phần được hấp thụ qua sách vở minh tâm. Tuy nhiên, cái đạo Hiếu ấy càng suy nghĩ cho kỹ đó chính là cái đạo tự nhiên, ông bà tổ tiên để gương lại cho cha mẹ, cha mẹ để gương lại cho con cháu rồi cứ thế từ đời này qua đời khác mà truyền tử lưu tôn làm thành cái đạo sống ở đời rất độc đáo của làng mạc, một đạo sống làm nền tảng văn hóa Việt Nam nơi làng quê luôn mang lại cho gia đình niềm an vui hòa thuận mà không phải hao tốn công sức tu luyện.
Do có trải qua những năm tháng được sanh ra và lớn lên từ nhà quê, phần đông ai cũng nhận ra chữ Hiếu được thể hiện qua lòng kính trọng thương mến của con cái đối với cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ bằng chính cái tình máu thịt mà cha mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh dưỡng ra mình. Nhận ra điều ấy để thấy đạo Hiếu ở nhà quê không lệ thuộc nhiều vào kinh điển sách vở xưa mà văn hoá Việt Nam phần nào chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa qua tứ thư ngũ kinh, đặc biệt chịu ảnh hưởng về đạo làm người của Khổng Tử. Những tấm gương hiếu đạo và những lời dạy về đạo làm con trong kinh sách phần nhiều nghiêng về phần luân lý hơn là dựa vào cái tình máu thịt ruột rà giữa cha mẹ và con cái. Nên sách vở khuyên dạy về cách báo hiếu cha mẹ đó và đồng thời cũng bó buộc phải làm theo như vậy đó, không cần biết có hợp hay không hợp với hoàn cảnh của con cái và gia đình.
Cái tình trong đạo Hiếu là cái tình thâm mà chắc chắn không sách vở nào ghi chép lột tả ra cho hết được. Thương cha mẹ không gì bằng thấy cha mẹ cực nhọc mình không nên ăn chơi phung phí là hiếu. Thấy cha mẹ không vui mình chẳng dám đùa giỡn vui đùa. Thấy cha mẹ đau yếu già nua, con cái lo miếng cháo miếng cơm thuốc thang chữa trị là hiếu. Đầu mùa lúa có hạt gạo thơm dâng cho cha mẹ nồi cơm lúa mới. Đầu mùa mưa, bắt được con cá mới lên đồng còn mập thè lè cặp trứng dâng cha mẹ miếng cá ngon. Cha mẹ nào cũng muốn con cái hòa thuận thảo ngay, mình không dám nghịch lẫn nhau là hiếu. Trong gia đạo anh em hòa hiếu, ngoài xã hội không ai dám chê cười. Bằng ngược lại anh em tranh giành nhau từng tấc đất bờ ao, từng bụi tre ngọn gáo làm cha mẹ phải rầu buồn vì con cái bất hòa, cả làng xóm chòm thôn ai cũng chê cười, đời đời bị bia miệng mai mỉa chế nhạo.
Đạo Hiếu ở nhà quê chú đến cái lòng thành hơn là cái nghi tiết nhỏ nhặt, rườm rà. Chữ hiếu càng nặng lại càng được giữ chặt trong lòng hơn là phô bày ra chiều trình diễn. Cái tình máu mũ ruột thịt là cái tình muôn đời như dòng nước ngọt không cắt rời ra được. Nó bền mà ngọt. Nó mạnh mẽ mà không khô. Nó thực tế mà không ra chiều chú trọng về mặt vật chất. Cái đạo Hiếu nó hiển hiện đó mà cũng thâm thâm diều diệu đó. Ai có lòng hiếu thảo sẽ nhận ra ngay, không cần phải giải nghĩa cầu kỳ, không cần phải trích dẫn ra hai mươi bốn tấm gương hiếu để ngày xưa trong Nhị Thập Tứ Hiếu bên Trung Hoa để mà noi theo.
 Ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi không khí gia đình riêng, mỗi người dân quê có cách riêng để đạt đạo Hiếu mà không phải bắt chước gương hiếu này hạnh thảo kia cho mình. Chính vì vậy mà chữ Hiếu ở nhà quê mỗi thời mỗi khác, mỗi nơi mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác nhưng có chung nhau tình máu thịt ruột rà giữa con cái đối với cha mẹ rất thấm thiết không có luật lệ nào can dự vào đạo lý gia đình nơi thôn quê được. Xem như điều này cũng không trái với đạo Khổng bàn về chữ Hiếu. Chẳng hạn cũng cùng chữ Hiếu, khi được các đệ tử hỏi về cái nghĩa lý của nó, mỗi người được Khổng Tử trả lời khác nhau. Với Mạnh Ý Tử, Khổng Tử đáp :”Vô vi”; với Mạnh Vũ Bá, Khổng Tử đáp:”Phụ mẫu duy kỳ bệnh chi ưu”; với Tử Du, Không Tử đáp:”Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã dai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ?”; với Tử Hạ, Khổng Tử đáp:”Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu tửu tự, tiên sinh soạn: tằng thị dĩ vi hiếu hồ?”
Trong giới thức giả tiền bối, dường như người nào thành nhân chi mỹ cũng coi chữ Hiếu là trọng. Một Vương Hồng Sễn, khi tuổi trời đã chín mươi, mà mỗi lần nhắc lại mẹ cha ông đều nghiêng mình nhỏ lệ để tỏ lòng hiếu đạo với bậc sanh đẻ ra mình. Một Nhất Hạnh với Bông Hồng Cài Áo, một Võ Hồng với Một Bông Hồng Cho Cha. Đặc biệt, với học giả Nguyễn Hiến Lê với Làm Con Nên Nhớ đã có lời sám hối:” Tình thương của cha mẹ tự nhiên như nước chảy xuôi, mà lòng hiếu của con phải nhờ giáo dục, nhờ kinh nghiệm rồi mới có.(...) Nước chảy xuôi hoài cho tới khi cạn. Cha mẹ cứ muốn giúp con hoài cho tới khi chết.(...) Trong cái trào lưu sinh hoạt vĩnh viễn bất tuyệt của loài người, nước đã chảy đi thì không bao giờ trở lại về nguồn. Hỡi các bạn trẻ sắp lập gia đình, như dòng nước sắp bắt đầu rời suối, các bạn nên ngừng bước lại một chút, quay lại nhìn về nguồn để hiểu nguồn thì trên đường đời các bạn đỡ phải ân hận, đỡ phải sám hối như hôm nay tôi sám hối trên bàn viết, trước mặt bàn thờ ba má tôi mà lư trầm đương lặng lẽ toả hương.”(Bách Khoa số 207 ngày 15-8-1965. Phật lịch 2509)
Người nhà quê mấy ai được đọc những sách vở viết về lòng hiếu thảo ấy trong Luận Ngữ của Khổng Tử, của Nhất Hạnh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê. Thành ra, đạo Hiếu nơi người nhà quê là cái đạo tự nhiên như trời có gió, nước có nguồn, cây có bóng mát làm cho phong phú thêm tâm hồn của họ vốn đã chất phác giản dị hiền hoà như mái lá ven sông càng ngày càng phong phú thêm nữa. Nghèo mà sạch. Ít học mà thơm lâu là vậy. Lòng hiếu thảo ấy là cội nguồn của một nền văn hoá rất ư gần gũi, ai cũng biết, ai cũng thấy, thời nào cũng cần giữ gìn. Trở về nguồn không gì bằng trở về nhìn lại những tình tự rất tha thiết, rất thực thà của dân quê trong đạo Hiếu đối với cha mẹ.
Trong trời đất con người là chánh. Trong gia đình đạo Hiếu là trọng. Không làm tròn đạo Hiếu là một thiệt thòi lớn của kiếp làm người. Không ai bắt tội mình kể cả cha mẹ. Mà chính mình sẽ tự trách mình suốt đời nếu để lỡ một dịp may không làm được những gì một người con cần làm để cha mẹ vui lòng.

Mùa Vu Lan 2003

(*) Mạnh Ý Tử hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp :”Không trái”; Mạng Vũ Bá hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp:”Cha mẹ chỉ lo cho con bị bệnh tật”; Tử Du hỏi về đạo hiếu, Khổng tử đáp:”Ngày nay người ta cho hiếu là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến chó, ngựa kia, người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác gì ?”; Tử Hạ hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp:”Khó ở chỗ giữ được nét mặt vui vẻ. Khi cha có việc, con phải khó nhọc (để giúp cha mẹ), hoặc khi có cơm rượu, mời cha ăn uống, như vậy đủ gọi là hiếu chăng? (Theo Luận Ngữ, Nguyễn Hiến Lê, nhà Văn Nghệ xuất bản, Hoa Kỳ , 1994.)

AN-GIANG, MỘT VÙNG CỔ TÍCH Ở PHƯƠNG NAM


Lương Thư Trung

AN-GIANG, MỘT VÙNG CỔ TÍCH Ở PHƯƠNG NAM

Bạn ơi, có lần nào bạn đi ngang qua An Giang chưa?  Nếu chưa, xin bạn nên ghé lại thăm An-Giang đôi ngày vì địa danh này đã gợi cho bạn nhiều hấp dẫn từ một dòng sông, dòng An-Giang. Phải thế không bạn? Người nghệ sĩ ngợi ca dòng An-Giang có cái lý riêng của họ mà tự dòng sông này cũng đẹp mát lạ thường.

Ngày xưa, khoảng những năm 1950-1960, nếu bạn từ miệt dưới Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre lên hoặc từ trên Sài Gòn, Tân An, Mỹ Tho xuống theo con đường liên tỉnh số 8, từ Sa Đéc lên khoảng ba mươi cây số là bạn đang ở địa phận quận lỵ Lấp Vò. Con đường số 8  thời xưa ấy hoang phế lắm với những lùm cây mắc cở, thù lù, cỏ lông gà mọc đầy hai bên đường và đá xanh trải mặt đường thì lởm chởm ổ gà, lỗ chân trâu làm cho bạn nhiều lúc đang ngồi trên chuyến xe đò cũ kỹ đôi lúc muốn nhảy chồm lên, dài khoảng ba cây số, từ chợ quận Lấp Vò sẽ đưa bạn đến bến bắc Vàm Cống. Nơi mà ngày xưa lúc Tây mới đến nơi này , để có nước sạch cho dân tiêu dùng, chính quyền địa phương hồi ấy bèn cho đào con kinh ăn thông vô một cái chợ nhỏ, nước lớn từ sông Hậu chảy vô rồi khi  nước ròng nước lại tháo trở ra sông Hậu, ở miệng ra vào, người ta mới đặt ống cống rất lớn để điều chỉnh nước thông thương mà có tên là Vàm Cống (1), và  ngày nay dấu tích cũ đâu rồi vì vàm nước từ sông Hậu này nay đã thành vàm sông rộng lớn mênh mông nước là nước.

Đây rồi, dòng An Giang đang rộng thênh thang phía trước mặt bạn. Từ mặt sông những ngọn gió nồm mát rượi thổi hiu hiu từ bên kia bờ phía An Giang làm bạn quên cái cảm giác mệt nhọc trên đoạn đường đá gồ ghề mà bạn vừa đi qua. An Giang đang chào đón bạn! Những chiếc bắc cồng kềnh như những "bè thủy lục" mệt nhọc chở những xe cộ cùng khách bộ hành từ bao mùa như chở những mảnh đời cũng mệt nhọc qua dòng An Giang xanh xanh nước  biếc ngọt ngào. Những con sóng bạc đầu từ hướng Cần Thơ ào ào tràn lên mùa gió chướng hay những con sóng lưỡi búa nhấp nhô từ bên kia sông giạt về bên này sông vào mùa gió nồm từ hướng Rạch Giá kéo về như những kiếp bọt bèo chìm nổi theo gió, theo dông tuần hoàn bất tận. Những ngọn sóng làm chòng chành chiếc bắc như muốn xô hết những gì mà nó đang

clip_image006
Bắc Vàm Cống(Long Xuyên-An Giang)

mang trong lòng một cách nặng nhọc, nhưng rồi chiếc bắc vẫn cố gượng dậy để đưa bạn đến bên kia bờ An Giang sau hơn hai mươi phút vượt qua con sông sâu có bề ngang phình rộng ra này.

Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng gặp những mùa gió chướng, gió nồm như vậy vì gió có mùa của gió, bạn đi qua dòng An Giang này có cái hạnh ngộ thật thú vị của bạn với dòng sông. Nếu bạn sang sông vào buổi sáng, bạn sẽ gặp dòng sông phẳng lặng đến hiền hòa. Bạn sẽ thấy cảnh bình minh trên sông với mặt trời bò chầm chậm từ dưới nước bò lên, vượt qua những rặng cây ở phía chân trời xa xa về hướng đông nơi làng Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây nằm vắt võng trên cái cù lao tưởng chừng lấp ngang dòng nước chảy xuôi ra biển, cách chợ quận Thốt Nốt một chuyến đò ngang. Ánh mặt trời để lại trên dòng nước một tấm thảm nắng ấm màu vàng ửng thật rực rỡ, chứa chan biết bao hy vọng của một ngày mới...Có lẽ nhân loại nói chung và cư dân vùng châu thổ dọc theo con sông Cửu Long này nói riêng, sống được là nhờ nước ngọt và sự có mặt của ánh sáng mặt trời.
DSC04083
Ngày nay khách sang sông nơi bắc Vàm Cống khi trời sụp tối

Tại ngã ba Vàm Cống phía bến kia sông, giữa vùng đất phương Nam, nhưng bạn vẫn nghe nhiều người nói giọng Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn hết sức bình thường, tự nhiên như ngay ngoài miền Trung mà thân tình. Nếu bạn rẽ về tay trái, bạn sẽ đi về Cần Thơ hoặc vào Rạch Giá theo hai lối rẽ khác nhau sau khi cùng đi chung một đoạn đường ngắn độ năm cây số. Cần Thơ xuôi về miệt dưới theo con đường số 9; Rạch Giá theo con đường số 8 về vùng biển ngàn trùng...Dĩ nhiên, bạn rẽ về tay mặt ngay khi vừa rời bến bắc là bạn đang đi về hướng tỉnh lỵ Long Xuyên, cách Vàm Cống chín cây số. Nhưng xin bạn cứ thư thả nhìn ngắm con đường mà bạn sắp đi qua vì có lẽ lâu lắm rồi bạn mới đến An Giang một lần, nên đâu phải vội vàng gì, phải thế không bạn?

 Khởi đi từ Vàm Cống này, hồi ấy, bạn sẽ theo con đường trải nhựa mà hai bên đường là những vườn  xoài, nhà cửa san sát chạy song song với dòng An Giang bên tay mặt và cánh đồng ruộng bao la về bên tay trái của bạn. Cánh đồng ruộng không có những rặng cây che ngang tầm mắt càng làm bạn thấy cánh đồng rộng thênh thang biết dường nào! Nó chạy tít mù xuống tới Cái Sắn, rồi chạy miết đến khu di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 trong Tân Hiệp với những con kinh đào băng ngang cánh đồng lúa hướng về con kinh Thoại Hà về phía núi Núi Sập, Ba Thê xa xa ở hướng tây nam; chúng mang tên những mẫu tự quốc ngữ như A, B, C, D, E, F, G, H... như những vết cắt nằm song song trên cánh đồng bằng. Nếu kể những địa danh gần hơn chút nữa, bạn sẽ nghe tên gọi quen quen những cánh đồng như Cái Sao, Bờ Ao, Bắc Dục, Vĩnh Chánh, Phú Hòa. Bạn có thể tưởng tượng giữa cánh đồng ruộng đất bùn  lầy ngàn trùng này lại có một vùng đất toàn là đá với đá. Những tảng đá nằm lúp xúp pha lẫn những lung vũng mà nông dân nơi đây gọi là vùng đá nổi, cách Bờ Ao, Bắc Dục không xa. Có thời sau năm bảy mươi lăm, người ta lại đổ xô về đây bòn vàng. Tuy không rầm rộ nhưng cũng tạo cho vùng quê này chút không khí sôi động, ồn ào. Tôi đã tận mắt nhìn thấy những vồ đá thấp, cùng những vết tích do người ta đào ruộng bòn vàng nơi đây còn để lại vào những ngày của các năm 1980 ấy nhiều lần qua những lần nuôi vịt chạy đồng ngang qua những miếng ruộng nơi này vào mùa cắt lúa tháng Hai, tháng Ba. Nhưng có lẽ vàng bòn được không bao nhiêu, nên người ta không quấy rầy những miếng ruộng an phận giữa đồng không mông quạnh này. Và rồi đá vẫn nổi giữa cánh đồng, những vồ đá bằng phẳng như những mặt bàn lộ thiên của các vị tiên ngồi ngắm trăng mùa nước cạn... Lác đác các loài chim muông như cò, diệc, gà đãi, gà nước, trích rừng dừng chân rỉa lông, nghỉ cánh hoặc chân bước lăng xăng như những chú tiểu đồng mang trà, rượu cho các chàng "ngư, tiều, canh, mục" đang ngồi nhâm nhi giữa cảnh đẹp của thiên nhiên, ruộng đồng thơm thơm mùi rạ mới ngạt ngào...

Giữa cánh đồng sâu hun hút này, có lẽ bạn cũng không ngờ có con kinh đào mà cư dân dọc hai bờ kinh nói rặt giọng miền Trung như những người mà bạn gặp ở ngã ba Vàm Cống. Nghĩ cho cùng, có lẽ tổ tiên chúng ta từ những ngày xa xưa xuất phát từ Quảng Nam, từ Huế mà lưu lạc đến đây cho đến tận bây giờ như một dòng chảy bất tận của một dòng sông Nam tiến vậy. Nên người dân An Giang thời nào cũng dễ cảm thông và sống hài hòa với mọi miền như những ngày tháng sau hiệp định Genève 1954 với cư dân vùng các con kinh ở Cái Sắn, Tân Hiệp. Phải chăng đây là một trong những nét đẹp của tấm lòng người phương Nam nói chung và An Giang nói riêng.

 Vì là vùng sông rạch chằng chịt, nên trên đường bạn đi, bạn phải đi qua những chiếc cầu đúc bắc ngang những con rạch nhỏ. Rạch Cái Dung, rạch Cái Sao, Cống Bà Thứ, rạch Gòi Bé, rạch Gòi Lớn, rạch Tầm Bót, rạch Cái Sơn để vào thăm Long Xuyên như về một thủ phủ thật đẹp và hiền hòa. Những con rạch mang phù sa từ dòng An Giang bồi bổ cho những miếng ruộng phì nhiêu bên tay trái đầy những bông lúa vàng. Long Xuyên mà bạn đang dừng chân có lẽ đã có từ thời có cuộc di dân từ hơn hai trăm năm mươi năm của tổ tiên chúng ta, nhưng nó được kiến thiết và mở mang rộng lớn như ngày nay là vào những năm 1950 với người có công lớn nhất với tỉnh lỵ Long Xuyên này là Ông Nguyễn Ngọc Thơ. Dường như Long Xuyên có cái dáng vẻ đặc biệt riêng, không giống bất cứ thành thị nào mà tôi có dịp đã đi qua hơn ba mươi tỉnh lỵ miền Nam. Khu hành chánh bên kia cầu Hoàng Diệu với Tòa hành chánh tỉnh, Tòa án, Ty bưu điện, Ty ngân khố, Sở giáo dục, trường học, nhà thương và nhiều ty sở khác như một vùng yên tĩnh. Bên này cầu Hoàng Diệu là khu thương mại, chợ búa, phố xá, khách sạn, rạp hát, bến đò, bến xe tấp nập, ngược xuôi... Và những đường phố của Long Xuyên khang trang với những dãy phố chạy dài cùng một lối kiến trúc giống hệt như nhau, không cao, không thấp, không trồi, không sụt như những bộ đồng phục mà bạn không thấy bất cứ nơi thị tứ nào mà bạn đã đi qua vùng đồng bằng miền Tây Nam phần.

Công viên Trưng Vương chạy dài từ đường Phan Đình Phùng đến đại lộ Tự Do như gương mặt diễm kiều của thị xã với những gốc trúc đào, những cây dương, những cánh hoa mười giờ màu tím than, những cây tùng xanh biếc quanh năm. Cầu Hoàng Diệu mà tên gọi thời Pháp thuộc là Henrie Rivière, bắc ngang con sông đào Long Xuyên-Rạch Giá như một kỳ quan vùng đồng bằng này, nối liền hai khu vực của thị xã như đan kết hai mảnh đời dính liền lại với nhau. Với hai dãy trụ đèn cao gần bằng những chiếc cột nhà ngói cổ dọc hai bên thành cầu từ xa xa bạn nhìn giống như những cổng tam quan đang đón bạn đi qua thành phố. Nếu bạn nhìn xuống dòng nước trôi xuôi về miệt núi Sập phía dưới chân cầu, bạn sẽ thấy chiếc cầu Hoàng Diệu đang in dáng dấp lung linh trên dòng sông tuyệt đẹp. Sau này có thêm chiếc cầu Duy Tân, song song với nó, nối liền bến chợ với nhà thương Long Xuyên, nơi mà những năm 1940-1945 chiếc ghe tam bản của tía má tôi tản cư đậu nơi bến nhà thương này, nhưng không sánh kịp về cái dáng đẹp đã có tự bao năm ...

DSC04101
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) nhìn từ bờ sông đường Quang Trung với những dề lục bình, cỏ xước, rau muống thân thiết với bến sông xưa dù có phải nhuốm màu thời gian qua bao mùa biến đổi...

Cầu Hoàng Diệu về đêm
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) về đêm với ánh đèn dọc theo các trụ cầu phản chiều ánh sáng lung linh lên mặt  nước.

Hàng cây trứng sấu to lớn trở thành những cây cổ thụ trên đường Đinh Tiên Hoàng phía bên kia cầu Hoàng Diệu chạy ngang qua khu học đường thật bệ vệ trang nghiêm. Nào là trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ, trường Nữ Tiểu Học với lớp lớp học trò nhỏ vui đùa của biết bao thế hệ nối đuôi nhau theo dòng thời gian mà những năm cuối thập niên 1940 tôi có dịp dự phần cùng các lớp học trò bé nhỏ ấy. Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu có cổng chánh bên đường Gia Long với những hàng dương liễu thướt tha chung quanh trường, có lẽ sẽ làm cho bạn nhớ về ngôi trường nào một thời mà bạn đã mài đũng quần. Trường này có may mắn là có nhiều vị giáo sư danh tiếng về dạy. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê, ngày xưa cũng dạy nơi đây ba niên học.
truongThoaiNgocHau1959
Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) năm 1959

Phía trước trường, gần cổng chánh, có ngôi miếu tiên sư thật trang nghiêm để thờ phượng các vị giáo sư của trường quá cố như tấm lòng nhớ ơn của học trò cùng hậu thế dành cho các thầy, như một nét văn hóa thật đẹp và cao quý của trường. Và có lẽ, tại Long Xuyên này, học sinh hết mực thương mến thầy. Trong hồi ký, nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc lại tình thầy trò:" Dạy ba năm ở Thoại Ngọc Hầu mà non ba chục năm sau, bây giờ về Long Xuyên còn gặp được năm sáu trò cũ coi tôi như cha, có trò thân mật như người trong nhà; điều đó làm cho tuổi già của tôi được vui." (2) Tình thầy trò ngày xa xưa ấy thật đầm ấm, thiết tha nhưng trang nghiêm, cao quí biết dường nào!
DSC03695
Hoàng hôn trên nền trời Long Xuyên (An Giang).

Nhưng có lẽ nên mời bạn đến thăm công viên Nguyễn Du bên bờ dòng An Giang, nằm song song con đường Lê Lợi, với những giàn bông giấy, những cánh hoa trúc đào, những cánh hoa phượng đỏ đứng soi mình lướt thướt bên bờ đá xây cặp dòng sông, nơi mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc trong hồi ký của ông, cứ mỗi lần đến đây ông có cảm tưởng như đang hưởng cái thú "giang thượng chi thanh phong" của Tô Đông Pha vậy. Công viên Nguyễn Du này tình tứ thật, nhất là những đôi tình nhân thời còn cắp sách thì tuyệt diệu vào những ngày năm sáu mươi năm xa xưa ấy. Ngày nay nước của con sông Cửu Long cạn dần vì các đập ngăn nước làm thủy điện trên các nước thượng nguồn và bờ đá nơi công viên Nguyễn Du cũng đành phải xa mặt nước sông để trơ ra bãi bùn và vài ba bụi cỏ dại lưa thưa nơi bến sông xưa, mà ngày xưa lúc nào nơi mé sông này cũng lé đé nước với những lượn sóng rì rào theo gió lô xô va vào bờ đá như một điệu nhạc của gió, của sóng, của sông nhịp nhàng không dứt ...


DSC04105
Công viên Nguyễn Du ngày nay với bờ sông Cửu Long nước cạn xa bờ, để trơ những bụi cỏ bên bờ sông cạn.

DSC04102
Hồ Bình Đức (Long Xuyên) đường Lê Lợi, bên cạnh công viên Nguyễn Du ngày nay nước cũng xa bờ .

Dù vậy, ngày xưa, nếu bạn xuống con đò nhỏ về bên kia cồn Mỹ Hòa Hưng, ngang công viên Nguyễn Du, bạn sẽ lạc vào chốn thiên thai với những vườn cây ăn trái phủ phục, oằn nhánh, nặng cành. Nào xoài, ổi, mận chẳng thua gì vườn ổi ở bến bắc Cần Thơ, nếu không muốn nói cư dân nơi Mỹ Hòa Hưng này chơn chất, ngọt ngào như cây trái mà họ trồng trong vườn... Bạn có thể ăn trái cây đầy bụng, nếu bị xót ruột, họ sẽ mời bạn dùng cơm với họ như người thân trong nhà.

Để tiếp tục cuộc hành trình, vì An Giang thì quá rộng, xin mời bạn trở lại Long Xuyên để về thăm Châu Đốc như một chuyến hành hương trở lại vùng cổ tích. Trước lúc rời khỏi Long Xuyên, có lẽ nên mời bạn ăn một bữa cơm với canh chua cá hô hoặc cá bông lau cùng cá rô kho tộ béo ngậy.

Cá chép khổng lồ sông Mekong là loài cá chép lớn nhất thế giới
Cá hô đất trắng (mà người Thái gọi là chép), một loài cá lớn và ngon của sông Cửu Long, chiều dài tối đa của chúng có thể lên tới 2,4m và cân nặng tới 250 kg.( nguồn: hubpages.com).


giant-barb
Cá hô đất đen của sông nước Miền Tây. (nguồn: answers.com)

Cá da trơn
Cá tra dầu thuộc hạ lưu sông Cửu Long (nguồn: National Geographic)

Nhưng ở đây có món mắm kho cũng ngon đáo để không thua gì mắm Châu Đốc mà ngay cả người sành điệu như Cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có lần đã phải khen (3):
"Thú ăn chơi cũng gọi rằng,
  Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian.
  Hà tươi cửa bể Tu-ran,
Long Xuyên chén mắm, nghệ An chén cà ."
 (Thú ăn chơi)

Tôi không biết "cà Nghệ An" thơm ngon như thế nào vì chưa có dịp được thưởng thức, nhưng chắc chắn mắm Long Xuyên với hương vị đậm đà quê hương và độc đáo lắm!

Thế là mời bạn đi theo con đường liên tỉnh số 9 về miền Châu Đốc để bạn có dịp nghiệm lại mấy vần ca dao mà người miền quê ở đây ai ai cũng hát dỗ em như nằm lòng:

"Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
  Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,
  Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,
 Có một mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?!!!"

clip_image004
Bắc Châu Đốc (An Giang)
           
Trên con đường khoảng năm mươi cây số này bạn sẽ đi xuyên qua những cánh đồng đầy lúa là lúa. Khi bạn đến ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng, đường đi Tri Tôn, bạn có thể dừng lại nơi đây trong chốc lát để thưởng thức món bánh tét vùng này. Những hạt nếp mới mà mềm và thơm mùi lá dứa ngạt ngào, làm bạn nhớ mẹ ngày xưa cũng nấu cho mình những nồi bánh tét nhưn đậu, nhưn chuối vào những ngày giỗ chạp, tết nhất mà thương mẹ nhiều hơn vì đã quá vất vả với mình. Từ đây nếu bạn theo con đường rải đá xanh, bạn sẽ về Cần Đăng, Hang Tra, Trà Kiết, Cầu số 5, Tri Tôn. Ngày xưa, con đường này vắng ngắt, mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò hiệu Thành-Long ột ệt bò từ Tri Tôn xuống Long Xuyên rồi trưa trưa lại bò về hết sức mệt mỏi. Riết rồi, trẻ con trong vùng mỗi lần thấy chiếc xe đò bò ngang qua vạt lúa của mình mà nhớ câu hát huê tình cười đùa mang nhiều ý nghĩa:
" Thành Long chạy tắt đường đồng,
 Mấy cô chưa chồng lại muốn Thành Long."

xedo
Xe đò Tri Tôn-Long Xuyên, Tri Tôn-Châu Đốc những năm 1950 (Nguồn: TSCĐ)

Theo con đường này, bạn nhìn về hướng tay trái, xa xa dưới kia có rặng cây băng ngang cánh đồng nối liền hai vùng Vĩnh Hanh, Hang Tra với Ba Bần là kinh xáng Bốn Tổng. Con kinh thẳng nên rặng cây xanh rì cũng thẳng như một nét mực Tàu vẽ lên nền trời trong vắt, mà hai ngọn núi Ba Thê, Núi Sập trong kia cũng khuất một phần chân bên kia rặng cây xanh. Ba bên bốn bề lúa là lúa. Bạn mà lọt vô vùng tứ giác này, có đủ các món nhậu để đãi bạn, từ chuột, rắn, rùa, cá lóc, lươn, tôm, chim muông đủ loại như một kho vô tận, nhất là vào những năm xa xưa còn làm lúa mùa chẳng thiếu món ngon vật lạ nào thuộc vùng đồng ruộng.

image036.jpg
Ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn  ngày nay, ngày xưa nơi này vắng vẻ lắm, chỉ lưa thưa vài ba mái lá bán bánh tét nhưn chuối, nhưn đậu chokhách bộ hành trên  những chuyến xe đò Tri Tôn-Long Xuyên qua lại nơi này.(Nguồn: TSCĐ)

Tiện đây nhắc một chút về địa danh Hang Tra mà có lẽ các bạn mới nghe lần đầu. Là vùng heo hút nơi thôn cùng này, nhưng Hang Tra lại có lần ghi tên mình vào sử sách qua trận đánh Pháp của Quản Cơ Trần Văn Thành vào ngày 20 tháng Hai, năm Quí Dậu (1873). Quản Cơ Trần Văn Thành, theo sử sách, quê ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thuận Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (4); nay là ấp Bình Phú, xã Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), quận Châu Thành, tỉnh An Giang. Để nhớ công ông, tại làng Bình Hòa trên con đường bạn sẽ đi qua ngang cầu sắt Mặc Cần Dưng có ngôi trường trung học mang tên Quản Cơ Thành.

Ngoài ra vùng đất An Giang còn rất nhiều sĩ phu, hào kiệt nữa mà bài viết ngắn này không tiện ghi ra hết được. Nhưng có lẽ cụ Thoại Ngọc Hầu là một trong những tiền nhân có công nhất trong việc kinh bang tế thế và mở mang vùng An Giang này mà ai ai đã đọc sử sách cũng đều am tường. Những di tích mà Ngài đã để lại như kinh đào Long Xuyên- Rạch Giá, kinh Vĩnh Tế dọc biên giới Việt-Miên là những bằng chứng cụ thể.

Để trở lại con đường số 9 về Châu Đốc, bạn sẽ qua khỏi cua Mặc Cần Dưng đến Năng Gù, một xóm đạo lớn nhất  An Giang này. Và chính vị cố đạo Conte coi nhà thờ Năng Gù, vào năm 1891 đem một giống lúa ở Cao Miên về đây gieo giống thử. Nó sống và lên theo kịp nước lụt, nên người Pháp gọi là lúa nổi (riz flottant), còn người Việt mình gọi là lúa mùa, lúa sạ (5) vì giống lúa này chỉ cần cày bừa rồi chờ mùa mưa xuống là sạ, rồi chờ đến mùa lúa chín là cắt gặt và mỗi năm chỉ làm lúa một mùa duy nhất mà thôi (sạ vào tháng ba, tháng tư, cắt gặt tháng chạp, tháng giêng âm lịch).

Tại Năng Gù này, nếu bạn xuống đò đi ngang qua dòng An Giang bạn sẽ đến những ngôi làng trù phú trên các cồn cát  với rẫy đậu, bắp, thuốc lá cùng vườn cây ăn trái, ruộng lúa. Những cù lao trên dòng sông Cửu Long trong địa phận An Giang này thật sự là một thánh địa với ngôi làng Hòa Hảo, làng Hưng Nhơn, quận Chợ Mới, với xã Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Long Kiến, Mỹ Luông, cù lao Ông Chưởng, cù lao Ông Hổ, cù lao Giêng với xóm đạo Công giáo và trại mồ côi khá lớn được tạo dựng từ lâu đời. Riêng Cù Lao Giêng, vào những ngày gần cuối năm 1967, chúng tôi có dịp theo phóng viên Việt Tấn Xã đến thăm trại cô nhi cùng xóm đạo này, nhờ vậy mới thấy vùng đất An Giang, đâu đâu tình thương yêu cũng tỏa ra như một vùng đất thánh. Ngay địa phận hai xã Hòa Hảo và xã Hưng Nhơn, trên Chợ Mới một đổi, sông Tiền Giang phía Tân Châu và sông Hậu Giang phía Châu Đốc ăn thông với nhau bằng con sông Vàm Nao có bề ngang rộng đến hơn hai cây số với lưu lượng nước rất mạnh và những dòng nước xoáy ngầm làm xụp lở bờ sông mỗi ngày mỗi lớn thênh thang. Nơi đây thường xảy ra những cảnh chìm ghe chết người vào những mùa dông mưa, bão tố mà hồi còn nhỏ chúng tôi thường nghe ông bà xưa kể lại tại Vàm Nao này có ông Năm Chèo nuốt vào bụng nhiều mạng người mỗi lần ghe xuồng qua sông trên khúc sông sâu và rộng bao la với sóng to gió lớn vào mùa gió chướng. Sông Vàm Nao, theo tương truyền, vào thời cụ Thoại Ngọc Hầu đào kinh Rạch Giá-Long Xuyên và kinh Vĩnh Tế vào đời vua Gia Long, chỉ là một con rạch nhỏ nhưng rất nhiều cá sấu (6), nên việc qua lại vùng này vô cùng ghê rợn. Nhớ hồi còn nhỏ, mỗi lần trẻ con khóc mà dỗ hoài không nín, chỉ cần người lớn dọa:" Còn khóc, ông Năm Chèo nuốt vô bụng" là đứa bé nín liền.

clip_image007
Bắc Vàm Nao (Chợ Mới, An Giang)
Nhắc cù lao Ông Chưởng là nhắc cụ Chưởng Binh Lễ, người có công trong việc đánh tan giặc Xiêm và giặc Miên cùng với Đốc Binh Vàng vào năm 1837, nhưng cả hai ngài đều tử trận và để tưởng nhớ công đức, hai ngài đều được triều đình phong làm Phúc Thần và được dân chúng lập đền thờ, cúng tế trang nghiêm, cùng đặt tên các kinh rạch, cù lao, đường xá, trường học tại địa phương. Chúng tôi ghi lại câu ca dao này để các bạn biết cả một  vùng sông rạch này cá tôm nhiều vô số kể:
            "Chiều chiều quạ nói với diều,
            Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm."

keovo
Quang cảnh của một con kinh vùng đất An Giang ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)

Trên dòng An Giang mà bạn đang theo dòng, vào mùa nước giựt, bạn sẽ thấy hàng hàng lớp lớp những dề lục bình trôi bềnh bồng trên dòng nước xuôi về hạ nguồn với những cánh hoa màu tím đung đưa trong gió, mang mang nỗi buồn về những mảnh đời vô định không bến, không bờ... Thời Pháp đô hộ có cả những thây ma bị Tây giết thả trôi sông tấp theo những dề lục bình... Rồi chợt nhớ về những vần thơ của một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm hoài:
            "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
            Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều .
            Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
            Sông dài trời rộng, bến cô liêu .

            Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
            Mênh mông không một chuyến đò ngang.
            Không cầu gợi chút niềm thân mật,
            Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng ..."
                                     (Huy Cận) (7)
clip_image002
Bông tím lục bình

Trở lại bến đò Năng Gù, mới bạn về thăm Châu Đốc với biết bao cảnh đẹp. Nhưng có lẽ từ trên bờ sông Châu Đốc được cẩn bằng những thềm đá xanh cao vòi vọi mà dòng nước tháng giêng thăm thẳm dưới xa kia cho bạn nhận ra lời ví trong ca dao gần gũi bạn hơn: "Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc..."

clip_image005
Đường xuống dốc bên hông lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang)

003-Bo De Dao Trang 2
Bồ Đề Đạ Tràng (Châu Đốc) (Nguồn:Hình do ĐD& LT chụp năm 2005, TSCĐ)

Chợ Châu Đốc thời xa xưa có đặc điểm là chuối thường để nguyên quầy, không cắt ra từng nải một và dù ban đêm nhưng chuối vẫn treo đầy trong các sạp, không cần phải dọn dẹp và sáng hôm sau lại bán tiếp tục mà không bị mất cắp. Dĩ nhiên bạn nên mua vài keo mắm thái, mắm trèn ngon ơi là ngon để làm quà cho bạn bè. Tại đây bạn có thể đi thăm Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã, thăm Núi Sam với thánh miếu Bà Chúa Xứ, lăng cụ Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An. Nhưng với Châu Đốc, có lẽ cũng xin nhắc cùng bạn nơi vùng đất thuộc An Giang này có những mùa nước lên ngập lút các đường phố vào những năm 1960, 1961 qua một vài tấm hình nước ngập tràn bờ bên cạnh như một dấu tích một thời. Bạn đừng ngại, ngày xưa vùng An Giang này hằng năm nước đều lên như vậy, và nhờ nước lên đồng ruộng mới được bồi đấp phù sa mà xanh tốt, cá tôm trên sông trên đồng mới hè nhau làm vui bụng dân nghèo sống bằng nghề câu lưới tới mãn mùa… 

nl_congvien2
Công viên Châu Đốc ngập lụt năm 1961(Nguồn: TSCĐ)

nl_duongbachdang
Đường Bạch Đằng (Châu Đốc) mùa nước lụt năm 196i.(Nguồn:TSCĐ)

nl_hinh1
Thị xã Châu Đốc mùa nước lụt năm 1961 (Nguồn: TSCĐ)

Nếu bạn theo con đường liên tỉnh lộ dọc con kinh Vĩnh Tế để về thăm Ba Chúc mà từ những năm xa xưa cách nay hơn năm mươi năm chúng tôi đã đến vùng này vào lúc Ba Chúc bắt đầu được khai mở làm thành "khu trù mật". Rặng núi nằm chắn một vòng thật dài như một thành lũy ngăn bước gây hấn của quân Miên có tên là Bảy Núi in hình lên nền trời thật hùng vĩ. Chúng tôi không có dịp đi hết qua các ngọn núi này nhưng ông bà xưa có kể tên các ngọn "Thất Sơn" này như sau, xin ghi lại cho bạn: Núi Két, Núi Cấm, Núi Bà Đội Om, Núi Voi, Núi Dài, Núi Cô Tô, và Phụng Hoàng Sơn.

duongvonuisam
Đường vô núi Sam (Châu Đốc) ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)

Việc đặt tên các núi, ông cha xưa thường căn cứ vào hình dáng ngọn núi mà đặt tên, nên mới có những tên núi như những hình ảnh vừa kể mà ai ai cũng nhận ra được. Thất Sơn là một vùng với nhiều giai thoại huyền bí nhưng có lẽ những người Việt bị giặc Miên giết chết năm Pôn Pốt tràn qua còn để lại
nhiều sọ người chất cao như núi tại một ngôi chùa là một trong những niềm đau xót mà chúng ta cần chia sẻ. Xin các bạn dành một phút để mặc niệm những oan hồn của đồng bào xấu số chết tức tưởi nơi vùng biên cương này khi đất nước quá nhiễu nhương!

Tại bến đò Châu Giang, ngày xưa ấy, bạn sẽ bắt gặp các cô học trò đi học bằng đò chèo qua sông giữa sông nước mênh mông. Những bông hoa biết nói ấy ngày nay có lẽ tuổi đời đã chồng chất nhiều rồi nhưng họ đã có một thời làm nên nét đẹp vùng châu thổ ấy, tuyệt diệu biết dường nào!
dihocbangxuong_bw
Đi học bằng đò ngang trên sông Châu Đốc nơi bến đò Châu Giang (Châu Phong) mùa nước lên. (Nguồn: TSCĐ)

Rồi qua vài con rạch nhỏ, không đi học bằng đò,các cô nữ sinh ngày xưa với tà áo dài trắng thanh khiết, thướt tha, họ bước chân lên những nhịp cầu tre lắc lẻo mà tâm hồn thiếu nữ man mác trữ tình. Cầu khỉ và bóng dáng nữ sinh một thời áo trắng làm bức tranh quê vùng An Giang thêm đẹp lạ kỳ! Phải thế không bạn ?
dicaukhi
Đi học mùa nước ngập qua cây cầu tre lắc lẻo(Nguồn: TSCĐ)


Nếu bạn đi thêm mười bảy cây số về hướng đông, bạn sẽ gặp một thị trấn tơ tằm và buôn bán phồn thịnh nằm bên bờ sông Tiền: Chợ Tân Châu. Tân Châu nổi tiếng với hàng lãnh Mỹ-A, hang Cẩm-Tự đen tuyền nhuộm bằng trái mặc nưa, một loại hàng thông dụng khắp từ miền Lục Tỉnh đến Sài Gòn và cả miền Trung. Dòng sông Cửu Long nước chảy xiết, rộng thênh thang. Xa xa bạn sẽ nhìn thấy những tàu buôn ngoại quốc đang buông neo sừng sững ngoài khơi như những cù lao, cồn cát. Vì là con đường giao thương qua lại quốc tế, nên Tân Châu như một thương cảng vùng nội địa của An Giang khi tàu buôn dừng lại. Do đó có những mặt hàng ngoại quốc ở Tân Châu tràn ngập mà các nơi khác không có càng thu hút nhiều người buôn bán từ các nơi khác đổ xô về làm cho chợ Tân Châu lúc nào cũng nhộn nhịp. Nhưng "tang điền biến vi thương hải" vì dòng nước chảy xiết, cả con đường Bạch Đằng với khu chợ náo nhiệt ngày nào đã bị chìm theo dòng nước cuốn trôi mất hút từ lâu rồi. Giờ chỉ còn một khu hoang vắng ngậm ngùi, những căn phố, những viên đá xanh lót đường ngày nào thăm thẳm chìm vào lòng sông
vô định qua từng mùa nước dâng, nước cạn... Khu chợ Tân Châu mới thì dời về sân banh còn buồn so như chưa kịp lay hồn tỉnh dậy... Rồi vàm kinh Vĩnh An Hà ngày xưa sâu là thế mà ngày nay vàm kinh cũ cũng đâu rồi một thuở đầy tràn những mùa nước kinh xưa?
clip_image001
Vàm kinh Vĩnh An Hà (Tân Châu- An Giang) những ngày chưa bị lấp.


Chợt nhớ mấy câu thơ của cụ Tú Xương:
"Đêm nghe tiếng ếch bên tay,
 Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò !"

clip_image003
Ghe cui trên sông Tiền Giang (Tân Châu-An Giang) mùa nước tháng 9 âm lịch.

Về Tân Châu bạn sẽ gặp những bè cá trên sông, những con cá he nghệ vàng nghín, cá ba sa đầy mỡ. Xuống Long Sơn, trên con đường đi về Hòa Hảo, bạn sẽ vui với mùa nhãn chín thơm đầy vườn bên tiếng chim gọi nhau líu lo xào xạc, nhớ câu thơ của Tế Hanh trong bài thơ Vườn Xưa đầy tình tự:

"Hai ta như sen mùa Hạ, cúc mùa Thu,
 Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
 Em theo chim em đi về tháng tám,
 Anh theo chim cùng với tháng ba qua ."

Nhưng có lẽ cũng xin mời bạn đọc bài thơ của nhà thi sĩ vùng Long Sơn (Tân Châu), thi sĩ Nguyễn Hải Thệ còn có bút danh Ngy Do Thái, viết về bến nước Tân Châu:

Sáng ra hỏi thăm dòng sông Trước
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em

Và bài ngợi ca Châu Đốc:

Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.

(Châu Đốc Quý Sửu 10/1973) (8)

Tân Châu còn là rừng mía chạy mút tầm mắt, những vạt mía thơm diệu, mía tây, mía huê kỳ, mía cọ cho nhiều đường ngọt lịm...

Trước khi bạn trở lại Sài Gòn hoặc về miền Cần Thơ, Cà Mau, xin mời bạn trở lại thăm hai vùng thân quen một thời của An Giang ngày xưa, giờ đã thuộc về hai tỉnh khác. Đó là Thốt Nốt thuộc Cần Thơ và Lấp Vò thuộc Cao Lãnh (Đồng Tháp). Giống như hai đứa con gái mẹ cha phải gả đi xa, cư dân Lấp Vò và Thốt Nốt luôn nhớ về An Giang không muốn rời căn nhà thân yêu cũ. Cực chẳng đã, phải dính líu đến giấy tờ hành chánh, nhưng kỳ dư mọi giao dịch, mua bán, thăm viếng họ đều gần gũi với An Giang hơn nhiều và lúc nào cũng tha thiết. Thốt Nốt cũng giàu có với lúa, với vườn và tháng mưa, lúa hột phơi đầy trên con lộ số 9 về hướng Cần Thơ mà mỗi lần xe chạy qua nghe rào rào dưới lườn xe vùn vụt. Còn Lấp Vò thì có nhiều trăn trở, đau buốt riêng của nó so với các nơi khác ở quanh vùng này. Bạn có tưởng tượng trong nhà lồng chợ Lấp Vò, thời thuộc Pháp, nhiều người bị Tây bắt chặt đầu, xác thả trôi sông và lấy đầu treo đầy cây tre trong nhà lồng chợ . Ngày xưa, nghe ông già bà cả kể, nơi chợ quận này có thằng Tây ác dữ lắm, biết bao gia đình là nạn nhân của nó, bị chặt đầu mà kinh hồn.

clip_image010
Ngã ba vàm Tân Bình và Xáng Lớn (Lấp Vò, Sa Đéc)

Nếu bạn qua sông bằng con đò chèo nơi bến đò Chợ Cũ để về Cái Tàu hoặc bạn bắt đầu rẽ tay mặt nơi có ngôi nhà xưa của anh Sáu Louis chuyên chụp hình rất đẹp nằm cạnh bến đò vào những năm 1950-1960 để về làng Tân Bình, Bồ Hút, Gia Vàm, Thủ Ô, lúc bấy giờ nơi bến sông này có ông Tú Thường mưa nắng bao mùa chèo đò đưa rước khách sang sông và bạn bồi hồi nhớ lại câu ca vọng cổ ngày nào và nhớ về một kiếp người lăn lóc cùng sông nước qua bao mùa mưa nắng:

 “Còn nước mơ màng mây vẫn vơ
Thì còn ông lão với con đò
Có tiền mua lấy vài chai rượu
Nhắp rượu xong rồi lão nói thơ

Thơ Vân Tiên
Linh đinh trời rộng sông dài
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi
Nói lối:
Còn nước còn non thì nơi bến cũ vẫn còn trơ một ông lão …
1.      … đưa đò. Sông nước miền quê như say theo tiếng hát câu hò. Trên con thuyền cũ kỹ ai muốn sang bến sông này lão đưa rước giùm cho, tiền bạc trả công chẳng nệ ít hay nhiều, lão chỉ  cần ngày hai bữa mà thôi, bởi lão đây yêu quý con đò như thiên hạ họ yêu một người tình lý tưởng …”(9)
Và rồi bạn chợt nghe một điệu hò quen thuộc của ông lão chèo đò mà như tiếng vọng từ trái tim mình:
    Hò ơ…
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .”(10)

Tiếp tục, xin được mời bạn đi theo con đường lộ đá cũ lồi lõm này, bạn sẽ về Cái Tàu Thượng, Tòng Sơn nơi sanh quán của Đức Phật Thầy Tây An. Ngôi chùa Tòng Sơn bên dòng sông Cửu Long, cách Cái Tàu Thượng vài ba cây số về hướng Đất Sét Nhỏ, là một ngôi cổ tự mà nhiều thập phương bá tánh về đây hành hương, cầu nguyện Phật Thầy . Nhưng có lẽ bạn sẽ qua rạch Xẽo Môn, nơi ngày xưa trồng khoai môn nổi tiếng vùng này, nơi mà Phật Thầy trị bịnh, cứu nhơn độ thế làm cho nhiều người khỏi chết vì bịnh dịch vào những năm đồ khổ, dịch bệnh. Dọc theo con hương lộ đá từ Mương Kinh về Cái Tàu Thượng những vườn trầu vàng, lá trầu non mượt, rải rác khắp một vùng làng quê lao xao theo cơn gió hiu hiu. Bạn sẽ gặp những cô thôn nữ hái trầu đem bán những phiên chợ quận với đôi má hây hây, tình tứ mà trầm trồ và buộc lòng bạn nhớ lại câu ca dao quen miệng mà giật mình:
            "Trồng trầu thì phải khai mương,
             Làm trai hai vợ, phải thương cho đồng."


An Giang quá rộng, nhiều nét đặc thù, nhiều con đường còn xa khuất mà tôi vì tài hèn sức mọn không làm sao ghi lại đầy đủ, trọn vẹn hết được. Tôi chỉ là người mê nét đẹp thiên nhiên và con người của An Giang, tôi muốn xin được chia sẻ cùng bạn những gì tôi đã cảm nhận được qua năm sáu mươi năm lớn lên từ vùng đất An Giang ấy. Suốt hai mươi năm chiến tranh, An Giang so với nhiều vùng khác là một vùng yên bình; có người còn gọi An Giang là đất Phật, là Thánh địa; nhưng với riêng tôi, dù hôm nay An Giang có nhiều thay đổi, chẳng hạn như dòng sông Cửu Long bị ngăn dòng bởi các đập thuỷ điện nơi các nước thượng nguồn nên nước sông càng ngày càng cạn hơn, từ đó kéo theo cá tôm khan hiếm hơn, đồng lúa đất đai ít khi được phù sa bồi thêm sau mỗi mùa lúa thần nông ngắn ngày kết thúc, thì trong lòng tôi, hình ảnh một An Giang những ngày tháng cũ cách nay năm sáu mươi năm quả thật là một vùng cổ tích tuyệt diệu ở phương Nam này.

Có lẽ An Giang là xứ sở của cổ tích, của huyền thoại thật sự của vùng đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, mà bạn khó bắt gặp bất cứ nơi nào khác có những nét đặc thù tương tự vào những ngày tháng cũ. Nhờ hội đủ ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhơn hòa, An Giang có một thời đã mang tặng cho bạn cái nét đẹp của những cánh đồng lúa mùa bao la bát ngát với những biển lúa chín vàng đồng, những bến nước hữu tình, những dòng sông đầy cá tôm, những vườn cây ăn trái ngào ngạt hoa thơm trái chín và một tấm lòng hiếu khách, hiền hòa , chơn chất của cư dân dọc hai bên bờ dòng An Giang mát mẻ, ngọt ngào, quả từ rất lâu, từ những năm tháng cách nay hơn năm sáu mươi năm, An Giang đã mang đến cho bạn một món quà rất đẹp và nhiều ý nghĩa rồi vậy !

Ngày 19-8-1998.
 (Trích trong "Bến Bờ Còn Lại" ấn hành năm 2000)
Ngày 25-6-2011, đọc lại và bổ túc nhiều chi tiết, hình ảnh quan trọng.

----------------------------
Phụ chú :

1/Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 170.
2/ Hồi Ký (tập 2) của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, trang 21.
3/ //Bảy Ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê, loại sách Học Làm Người, 1954, trang 99.
4/ Việt Sử Tân Biên (tập 5) của Phạm Văn Sơn in lần đầu tại Thư Lâm ấn quán, năm 1962, trang 208.
5/Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 86. Ngoài ra, theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm, qua tài liệu của ông Đặng Văn Ty thong phán hồi hưu ở Châu Đốc thì ông Phan Văn Vàng, tục gọi “xếp Vàng”, người làng Đa Phước, quận Châu phú, nay là xã này thuộc An Phú (Châu Đốc), thường năm ông lên miệt sông lớn bên Miên bắt sấu về bán, đồng thời ông thấy người Miên có trồng giống lúa nổi rất trúng, nên  mua về trồng thử và kết quả trúng mùa; do vậy dân vùng Tân Châu Châu Đốc qua Miên mua giống về trồng. Nhưng theo Địa Phương Chí Tỉnh An Giang, trang 27, thấy ghi ông Phó Tổng ở Đốc Vàng Hạ (Long Xuyên) là người tìm ra giống lúa sạ trước nhứt”(Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh, 1964, nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003, trang 54)
6/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 97.
7/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 93.  
8/ Trang nhà TSCĐ.com, mục thơ, tác giả Nguyễn Hải Thệ-Ngy Do Thái,(trích tập thơ Ảo Ảnh)
9& 10/ Bái vọng cổ “Ông Lão Chèo Đò” của soạn giả Viễn Châu, Tuyển Tập Vọng Cổ, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 88.

Sunday, August 14, 2011

Đừng !

Đừng !


- Ðừng nên thờ ơ với những gì đã quá quen thuộc với bạn. Hãy giữ chắc lấy chúng như những gì quan trọng nhất, vì sẽ có lúc bạn cảm thấy tiếc nuối khi những điều thân thuộc ấy mất đi. 

- Ðừng hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau. 

- Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ có bạn mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình. 

- Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc đời. 

- Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm. 

- Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được. 

- Đừng để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai. bằng cách sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời. 

- Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi. 

- Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó. 

- Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ " giàu có" trong cuộc sống của mình. 

- Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua. 

- Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời. 

- Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn. 

- Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng. 

- Đừng từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho. 

- Đừng ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo. 

- Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm. 

- Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghĩ không thể nào tìm ra nó. 

- Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cánh tự do.

- Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu. 

- Đừng quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng. 

- Đừng ngại học hỏi. Kiến thức là vô bờ, là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng. 

- Đừng sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn. Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại. 

- Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng từng bước khám phá...

- Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ, vì biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi. 

- Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống. 

- Đừng quên tìm cho mình một người bạn thực sự, bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời. 

Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần. Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.

(St)

Thành công

Thành công


# THÀNH CÔNG VỀ CÁI GÌ ?
Khi được hỏi về sự thành công thì ta thường nghĩ ngay đến nghề nghiệp của mình. Đây cũng là lẽ đương nhiên, vì khoản thu nhập hay vị trí trong xã hội có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của hầu hết mọi người. Nhất là tại thời điểm này, kinh tế toàn cầu đang suy thoái trầm trọng, nhiều công ty phải đóng cửa, nhiều tập đoàn bị phá sản và vô số người bị mất việc, cho nên nó đã trở thành thứ nhạy cảm hàng đầu khi người ta ngồi lại với nhau mà không ai dám nhắc tới hai chữ thành công.

Vậy nên ít khi nào ta hỏi ngược lại người kia hay tự hỏi chính mình: thành công là thành công về cái gì? Thành công phải có đối tượng của nó, cụ thể là lĩnh vực nào, chứ không phải cái gì cũng thành công thì mới được gọi là thành công. Như ta đang sở hữu những thứ tiện nghi sang trọng đắt tiền, hay vị trí xã hội mà rất nhiều người mơ tưởng, thì không lý do gì ta không tự nhận mình là kẻ thành công. Nhưng khi có được những thứ đó trong tay thì hạnh phúc gia đình lại đổ vỡ, người thân không muốn nhìn mặt ta nữa, hoặc ta không thể tin tưởng và cảm thông những người bạn xung quanh…thì ta có được gọi kẻ thành công nữa không? Có đấy, nhưng chỉ thành công về mặt vật chất, còn đời sống tình cảm thì thất bại nặng nề.

Còn nếu ta cho rằng tình yêu của ta là nhất, trên cõi đời này không còn thứ gì quan trọng và tuyệt vời hơn thế nữa, để rồi ta lao theo nó như con thiêu thân bất chấp mọi thứ đang xảy ra chung quanh và phía trước. Ta bỏ ra rất nhiều thời gian, tiền của, năng lực và cả những phẩm chất quý giá trong tâm hồn để nắm bắt nó. Ta không cần chăm sóc bản thân, không buồn quan tâm tới việc làm hay những mối quan hệ chung quanh để giữ gìn nó. Ta tập cho mình thói quen ganh ghét hay ăn thua đủ khi người kia không hết dạ với mình. Giả sử người kia đã thuộc về ta rồi thì ta có thật là kẻ thành công không? Có đấy, ta đã thành công về khả năng chinh phục kẻ khác, nhưng lại thất bại với chính mình.

# THÀNH CÔNG Ở BÊN NGOÀI
Ta luôn chịu ảnh hưởng bởi tâm thức cộng đồng, luôn bị cuốn theo dòng chảy mãnh liệt của cuộc sống, nên không dễ gì có được chánh kiến (right view) của riêng mình. Dù ta đọc sách thánh hiền, được người hiểu biết hướng dẫn, hay do chính ta suy nghiệm lấy thì ta cũng không đủ can đảm để bước theo hướng đi sáng đẹp mà mình đã tìm ra. Tại vì hướng ấy rất cô độc, gần như mọi người đều đổ xô theo hướng tìm kiếm quyền lợi vật chất hay thỏa mãn danh dự, chứ không còn thiết tha gì với giá trị đời sống tinh thần.
Bây giờ bước ra đường phố ta không khỏi ngẩn ngơ trước dòng người đông nghẹt, nhưng ai nấy cũng đầy vẻ căng thẳng và hối hả như đang chạy tìm một cái gì đó. Họ không biết mình đang đi tới đâu, ai vừa lướt ngang qua mình, thì làm sao có thể nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến, hay tặng nhau một nụ cười thân thiện. Ngồi cạnh nhau trên xe buýt hằng giờ nhưng không ai chịu bắt chuyện, vì dường như ai cũng đang rất bận rộn với những kế hoạch trong đầu. Họ gặp nhau ở công ty nhưng cũng không thể dừng lại hỏi người kia có khỏe không và chờ đợi câu trả lời, vì họ có cảm tưởng như vậy là mất một vài giây phút quý giá trong đời, thay vì tranh thủ lao đầu vào các tờ nhật báo, lên internet để tìm kiếm những thông tin mà họ cho là hữu ích cho sự thành công.

Nhiều người lại không thích người khác hỏi thăm mình. Họ luôn nghĩ sự hiện diện của người kia là không cần thiết hay sẽ làm cho mình mất tự do. Tại vì họ không muốn công khai với người khác về sự thất bại của mình trong công việc làm ăn, và họ có thể nghĩ người kia đang tìm cách để cạnh tranh hay hạ gục mình giữa thương trường. Vì vậy mà bây giờ thương trường đã trở thành chiến trường khốc liệt, trong đó, ai không có đủ sự khôn ngoan và chiêu thức tinh xảo thì phải chấp nhận trở thành kẻ chiến bại. Để rồi con người ngày càng tự biến mình thành cỗ máy vô tri và mất dần tình người với nhau. Đến lúc không chịu đựng nổi cảnh sống “máy móc” và hời hợt như vậy nữa, thì họ chui mình vào vỏ bọc của sự cô đơn, lạnh lùng, và làm những quyết định hết sức lầm lẫn.

Sự thành công như thế vốn đã mang theo tính chất của sự hủy diệt rồi. Thà tài sản bị tiêu tán thì ta vẫn còn cơ hội tìm lại được, hay ta vẫn còn nhiều điều ý nghĩa để sống, nhưng một khi những phẩm chất linh thiêng trong tâm hồn như sự bình an, lòng thương xót, tính thật thà, đức khiêm cung… bị băng hoại thì có khi cả đời ta cũng không sao thiết lập lại nổi. Một kẻ sống không có chất liệu đạo đức là một kẻ thất bại thảm hại. Sống mà không thể yêu thương hay không được yêu thương thì có khác gì những loài ma đói!

Cho nên ta đừng quá hốt hoảng hay buồn chán khi ta đang là kẻ chiến bại trong chiến trường kinh tế. Nếu ta vẫn còn khả năng ngồi yên để uống một chén trà nóng với bạn bè, vẫn còn kiên nhẫn để lắng nghe người thương chia sẻ, vẫn còn biết rung động trước những cảnh đời trái ngang, vẫn còn sốt sắng đứng ra bảo bọc kẻ khác thì ta hãy ăn mừng đi. Vì đối với gia đình, với xã hội, với đất trời này ta là kẻ đã sống trọn kiếp con người.

Vậy nên có thể nói, thành công với chính mình thì ta sẽ dễ dàng thành công với tất cả, nếu thất bại với chính mình thì ta không bao giờ giữ được những thành công khác. Cụ Nguyễn Du cũng đã từng nói: “Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm”, ta đừng bao giờ quên nguyên tắc điều hợp cuộc sống quan trọng này. Giờ phút nào ta vẫn còn chạy vòng ngoài để tìm kiếm sự công nhận, hay tích góp thêm tiền bạc mà bỏ bê những người thân yêu trong gia đình hoặc chính tâm hồn mình, thì giờ phút đó ta vẫn chưa cắm rễ vào sự sống, chưa thực sự biết sống, hay chưa tìm ra lẽ sống.

# THÀNH CÔNG VỚI CHÍNH MÌNH
Sự thống trị của cơ sở vật chất đã làm cho bao lớp người không tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống này là gì. Nhiều bạn trẻ khi đã lấy được chứng chỉ Đại học rồi mà cũng không dám bước vào đời, họ nghĩ phải tiếp tục đào xới kiến thức trong học đường vài năm nữa để lấy thêm chứng chỉ Cao học hoặc ít nhất là phải có thêm một chứng chỉ nào khác nữa thì mới đủ tư cách để bước vào ngưỡng cửa thành công. Trong đầu hầu hết các bạn trẻ đều luôn nghĩ đến việc kiếm thật nhiều tiền, phải chứng tỏ cho mọi người thấy được tài năng của mình trong khi còn sung sức thì mới hài lòng với chính mình. Nhiều bạn có cơ hội tiến thân là nắm bắt ngay, những người chưa đủ thực lực cũng chen chân và tìm mọi phương cách để gây sự chú ý của người khác, đánh bóng tên tuổi mình. Với họ, được nhiều người biết tới, dù đó là sự tai tiếng (scandal) cũng đã là một sự thành công vẻ vang rồi. Thật đáng sợ!

Làm sao để nói cho các bạn trẻ ấy biết rằng cái gì cũng có cái giá của nó, giây phút đón nhận hậu quả của những hành động sai lầm rất khủng khiếp. Làm sao để phân tích cho họ thấy được bản chất thật của cuộc sống là gì, làm sao để giúp họ xác định lại đâu mới là mục đích chính của đời sống? Hay là “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Nguyễn Du), chắc là đôi lúc ta cũng nên để cho các bạn ấy phải chịu vấp ngã vài lần thật đau thì may ra mới bừng tỉnh mà định vị lại cuộc đời mình, chứ không dễ gì ngăn cản nổi sự háo thắng và liều lĩnh của họ một khi đã lún sâu vào danh vọng.

Các nhà phân tâm học tây phương thường hay nhắc nhở rằng nhà trường chỉ cung cấp cho ta 25% kiến thức, còn cuộc sống trải nghiệm mới cho ta 75% kiến thức ta cần. Sự lầm lẫn về phương tiện sống và mục đích sống đã khiến cho rất nhiều thế hệ học sinh ra trường khủng hoảng về sự lựa chọn hướng đi cho cuộc đời mình. Họ không dám bước vào đời vì họ sợ mình thua sút người khác, mình sẽ không phải là sự lựa chọn tối ưu của những công ty danh tiếng, mình sẽ không dễ dàng chinh phục được những đối tượng có quyền lực. Có bao nhiêu bạn trẻ đã dành trọn nguyện vọng của mình cho việc tìm kiếm giá trị hạnh phúc chân thật, phương cách nào để làm chủ được bản thân, hay làm sao để bảo vệ môi sinh, cứu giúp trẻ em đói, hoặc giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc?

Nhưng câu hỏi đó vẫn luôn bị xem là xa vời, phi thực tế. Tiền bạc hay danh vọng mới đích thực là tâm nguyện hàng đầu của giới trẻ bây giờ. Nhưng các bạn ơi, thành công ấy sẽ đưa ta đi về đâu? Đành rằng đời sống ai cũng cần những tiện nghi đó, nhưng nếu ta không thể thành công trong những lĩnh vực sâu sắc khác của đời sống thì ta sẽ thấy đời sống này rất vô vị và trống rỗng. Tại vì những cảm giác sung sướng của sự thành công kia sẽ mau chóng đi qua, nó sẽ để lại cho ta một nỗi cô đơn mà không có ai chia sẻ được. Đó cũng là lý do tại sao kẻ có nhiều quyền lực chính là kẻ cô đơn nhất.

# TA HÃY TRỞ VỀ TÌM LẠI SỰ THÀNH CÔNG NƠI CHÍNH MÌNH.
Hãy học cách lắng đọng tâm thức, không để đầu óc suy nghĩ vẩn vơ; hãy cố gắng luyện tập làm chủ một cơn giận, nhận diện và chuyển hóa những năng lượng độc hại như lòng tham, tính ích kỷ, thói quen so đo tính toán với mọi người. Hãy tìm cách khơi dậy những phẩm chất quý giá trong tâm hồn và những năng lực tiềm ẩn chưa có điều kiện phát sinh. Ta hãy tập cho thành công những bước chân thong thả, những buổi ăn cơm đầm ấm với gia đình, hay những khi lắng nghe khó khăn của người khác. Sự thật cuộc đời này không có cái thành công lớn hay nhỏ, mà chỉ có cái đem tới cảm xúc nhất thời hay giá trị hạnh phúc chân thật mà thôi.
Núi muôn đời vững chãi
Mặc tuyết phủ sương giăng
Ta đã tìm thế đứng
Hay vẫn còn lăng xăng?

ST

Saturday, August 13, 2011

Con Đường Hạnh Phúc






Con Đường Hạnh Phúc


Hầu như mọi nỗ lực của con người đều nhắm vào mục đích tìm kiếm một đời sống hạnh phúc. Nhưng thử hỏi mấy ai đã thành công trong mưu cầu tạo dựng một nền hạnh phúc đích thực.

Nhiều người càng cố gắng truy tầm hạnh phúc thì nó lại càng trở nên xa vời đối với họ, trong khi nhiều người khác đã nắm sẵn hạnh phúc trong tay nhưng lại thả mồi bắt bóng để rồi cuối cùng hạnh phúc cũng vuột khỏi tầm tay.

Sự thật, hạnh phúc không hoàn toàn tùy thuộc nơi tiền tài, danh vọng mà con người đã phí sức đạt cho bằng được. Thực tế chứng minh, lắm người đã lên đến tột đỉnh của danh vọng hay đã thành công trong việc tạo lập một gia sản to lớn, nhưng vẫn sống một đời sống bất an, vô vị.

Hạnh phúc đâu phải xa vời với chúng ta đến thế, chỉ cần hướng tâm về với chủ thể để khai thác một nguồn hạnh phúc bất tận đang sẵn sàng chờ đợi ở nội giới mà chúng ta lãng quên để chạy theo ngoại cảnh.

Muốn khai thác nguồn hạnh phúc nội tại đó chúng ta phải biết một số nguyên tắc căn bản khả dĩ tạo điều kiện tất yếu cho một đời sống an lành. Những yếu tố tiên quyết đó là gì?

Kiểm soát nội tâm

Tâm hồn của con người có khả năng chi phối thể xác. Vì thế, tâm chấp chứa những niệm bất thiện thì thật là một điều đại họa, lắm khi có thể giết chết cả một đời người. Ngược lại, nếu an trụ trong Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh tư duy thì tâm có khả năng đem lại cho chúng ta một đời sống hạnh phúc, lành mạnh.

Không nên để cho trí phán đoán của chúng ta mang nhiều thành kiến, cố chấp. Hầu hết những phán đoán hay quyết định trong lúc bực tức hay khi hứng khởi bồng bột sẽ làm cho chúng ta ân hận về sau. Phải giữ tâm bình tĩnh và suy xét kỹ càng thì phán đoán mới không thiên lệch.

Đức Phật dạy: "Không một kẻ thù nào nguy hiểm cho con bằng tâm dục vọng, lòng oán thù và tính ganh tị của con". Thật vậy, chỉ khi nào tâm được rèn luyện và phát triển theo đúng chánh đạo thì mới đem lại lợi ích cho mình và tha nhân.

Tâm trầm lặng không có nghĩa là yếu mềm, tiêu cực. Thái độ trầm tĩnh của một người chứng tỏ họ là tri thức. Vì khi gặp một hoàn cảnh cam go, nan giải mà vẫn không lo âu bối rối thì thật không phải dễ. Sự trầm lặng đó hẳn có một sức mạnh vô song mà bất kỳ trong mọi hoàn cảnh cũng không thể lay chuyển được. Đó là điều kiện tiên quyết cho một đời sống hạnh phúc, đúng như một danh ngôn Pháp đã nói: "Sự yên lặng và bình an của tâm hồn ngọt ngào hơn các lạc thú".

Hành động sáng suốt

Điều quan trọng không phải là tiền tài, sức lực, học vấn, tài năng mà chính là biết cách sử dụng, và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ những khả năng đó để đem lại hạnh phúc cho mình và đồng loại. Vì nếu dùng sai những khả năng sẵn có của mình thì chỉ làm cho mình thêm sa đọa.

Chúng ta phải dũng cảm để biết cái nhu nhược của mình, phải can đảm để biết chỗ hèn nhát của mình, phải bất khuất khi thất bại và khiêm nhường khi chiến thắng. Phải luôn luôn tỉnh giác, sáng suốt để không có những hành động ngông cuồng, mù quáng.

Nhiều người bỗng nhiên phát tài, hoặc thừa hưởng một gia sản to lớn của cha mẹ để lại nhưng họ không biết gìn giữ, phát triển hoặc xử dụng thế nào cho hợp lý, và vì thế chẳng bao lâu gia tài bị tiêu pha hoang phí cho đến khi kiệt tận. Thường thường những của cải không do mồ hôi nước mắt của mình tạo ra thì không có giá trị đích thực. Phải biết sử dụng tài sản đúng mức cho mình và đôi khi vì lợi ích của kẻ khác.

Cũng như tài sản, sức mạnh, học lực, tài năng phải được xử dụng đúng chỗ, đúng lúc thế nào để được lợi ích cho mình và tha nhân.

Cải tiến chính mình cho thích ứng với hoàn cảnh

Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn luôn bị biến đổi, nhưng ít ai nhận chân ra được thực trạng đó. Chúng ta không nên cố chấp vào truyền thống, tập tục hay tín ngưỡng được truyền lại từ các bậc tiền nhân chỉ vì nghĩ rằng: "Xưa bày nay làm". Nếu mọi người đều có óc thiển cận như thế thì làm thế nào xã hội có thể tiến hóa được. Có nhiều truyền thống từ ngàn xưa để lại mà không lỗi thời vì luôn luôn thích ứng với xã hội mới. Nhưng không phải vì thế mà các bậc phụ huynh câu nệ và bắt con mình giữ đúng mọi tập tục cổ truyền.

Hãy để cho thế hệ hậu lai theo kịp đà tiến hóa của xã hội miễn là không quá lố đến vượt qua khỏi giới hạn luân lý căn bản. Như thế chúng ta nên tránh một cuộc xung đột giữa hai cực đoan của nhóm người bảo thủ và duy tân. Vì cả hai đều là chướng ngại vật cho một sự tiến hóa trung dung tất yếu của xã hội con người.

Tiến bộ trung dung tức là phải chấp nhận một số truyền thống chân chính làm nền tảng hay làm yếu tố hướng dẫn cho mọi trào lưu tiến hóa của xã hội. Có như thế thì xã hội của chúng ta mới không bị cứng đọng mà cũng không tiến quá nhanh đến độ sa chân vào hố thẳm.

Mỗi người là một phần tử tạo thành xã hội, nên phải chịu một phần trách nhiệm về những thăng trầm, tiến thoái của xã hội trong đó mình đang sống. Chúng ta phải tự hỏi là đã làm được gì để đóng góp vào trật tự tiến hóa của nhân loại. Đó chính là yếu tố nung đúc tinh thần sáng tạo thay vì tự mãn với những gì đã có.

Mặt khác, ai cũng hiểu rằng "bá nhân bá tính" nên chúng ta không thể sửa đổi mọi người cho hợp với ý mình, lại càng không thể san bằng mọi chông gai hiểm trở để bước những bước thật êm ái trên đường đời. Ai ra khỏi mà không mong trời yên biển lặng, nhưng tốt hơn hết là họ nên luyện tập mọi khả năng thích ứng hầu đối phó với phong ba bão táp xảy đến bất cứ khi nào.

Người muốn bước những bước êm đềm trên đường đày chông gai phải mang vào chân một đôi giày an toàn; cũng thế muốn có được một đời sống an vui tự tại phải biết cách chế ngự lục căn để sẳn sàng đối phó và thích ứng với mọi hoàn cảnh mà không bị lôi cuốn hay vướng mắc.

Khiêm nhường

Người trí thức lấy khiêm tốn để đo cái sở tri và cái sở bất tri của mình, nhờ thế họ biết được chỗ khiếm khuyết để bổ túc và kiến thức của họ luôn luôn được mở rộng. Tự mãn là một trở ngại lớn lao trong việc tự rèn luyện bản thân.

Chính Đức Phật đã làm cho mọi người ngạc nhiên và kính phục khi Ngài từ bỏ vương quyền của mình để sống một nếp sống từ tốn; và khi Ngài trở thành bậc thánh nhân Ngài vẫn không bao giờ tự xưng là giáo chủ. Giáo huấn của Ngài không bao giờ có vẻ tự đắc, tự phụ.

Nhờ khiêm nhường ta không những học được những điều hay lẽ đẹp ở người mà còn không bị người ganh tị, tật đố. Một người tài cao như Hàn Tín thật hiếm có, nhưng vì tính tự cao tự đại nên phải hứng chịu một hậu quả thảm khốc về sau. Trái lại, Trương Lương tuy tài cao mà khiêm tốn nên luôn luôn được quý trọng và nhờ thế ông đã sống một đời sống thật thanh nhàn an lạc.

Tiết kiệm thời giờ

Thời giờ quả là quý báu hơn cả vàng ngọc, vì một ngày ta chỉ có 24 tiếng đồng hồ chứ không thể mua thêm được một giây một phút dù với bất cứ giá nào. Một đời người thật quá ngắn ngủi để cho ta có thể hoàn thành được lý tưởng của mình. Các nhà học giả khi đến tuổi về chiều vẫn còn cảm thấy chưa học hỏi được bao nhiêu. Nên họ ước sao cho ngày tháng dài ra để cho thêm thời giờ học hỏi nghiên cứu.

Nhưng trái lại, nhiều người đã không sống trọn vẹn 24 tiếng đồng hồ một ngày để làm những việc đáng làm. Họ tiêu pha thời giờ trong những câu chuyện ngồi lê đôi mách hoặc lo âu cho tương lai, hối tiếc quá khứ mà không biết rằng mình đã đánh mất giây phút quý báu nhất là hiện tại -- giây phút ngắn ngủi mà ta thực sự hiện hữu trong cuộc đời -- cho đến khi giây phút quý báu đó vượt khỏi tầm tay rồi mới than van hối tiếc.

Nếu bất cứ một giây phút hiện tại nào cũng được sử dụng hợp lý thì quá khứ có gì đáng nuối tiếc và tương lai chắc chắn phải tươi đẹp huy hoàng. Tiêu phí thời giờ không những làm hại chính mình mà đôi khi còn làm mất thời giờ của kẻ khác.

A. De Gasparin nói rằng: "Giữa cái dĩ vãng đã thoát khỏi tay chúng ta và cái tương lai mà ta không thể biết rõ, còn lại cái hiện tại nói rõ bổn phận của ta."

Chúng ta phải thực hiện những gì có thể thực hiện được ngày hôm nay, chứ không nên để đến ngày mai. Đừng để cho giây phút hiện tại quý báu này trôi qua một cách vô vị, trong khi những bổn phận đáng làm lại bị lãng quên hoặc hẹn lại một ngày ở tương lai chưa chắc sẽ đến với ta.

Boileau cũng bảo rằng: "Hãy giục giã lên, thời gian trôi và lôi cuốn chúng ta theo, chính cái lúc mà tôi nói đây chưa chi đã đi vào quá khứ." Vì quá khứ chỉ là giấc mộng và tương lai nào ai biết chắc sẽ ra sao nên ta phải sống và phải tiết kiệm từng giây, từng phút trong hiện tại này.

Kiên nhẫn và chịu đựng

Hãy kiên nhẫn đối với tất cả mọi người. Sân hận chỉ đưa đến một ngõ cụt không lối thoát. Tâm sân hận không những chỉ làm tổn thương người khác mà còn làm hại chính mình, vì nó gây xáo trộn cho đời sống tâm-vật-lý của ta. Một lời nói bất nhã không dằn được trong khi tức giận cũng như một mũi tên đã lìa khỏi cung, khi đã gây thương tích cho người khác, thì khó có thể tha thứ được dù có ngàn lần ăn năn hối lỗi cũng đã muộn rồi.

Tục ngữ có câu "No mất ngon, giận mất khôn". Thật vậy khi nóng giận ta dễ trở thành mù quáng. Vì thế kẻ thù ta chiến đấu không phải ai khác mà là lòng sân hận của mình. Tâm ta vừa là bạn đồng minh, cũng vừa là kẻ thù nguy hiểm nhất. Chúng ta phải chiến đấu để tận diệt kẻ thù nội tuyến Tham, Sân, Si này bằng Giới, Định và Huệ.

Hãy nhớ rằng "Một sự nhịn, chín sự lành" đúng như người xưa đã từng kinh nghiệm và dạy lại cho chúng ta.

Dĩ ân báo oán

Muốn thắng địch thủ trước hết ta phải tiêu diệt kẻ thù nội tuyến nguy hiểm hơn, là tâm sân hận của chính mình. Mặt khác, nếu chúng ta bối rối, và hành động mất bình tĩnh trước kẻ thù tức là ta vô tình mắc bẫy của họ.

Nếu ta học được điều hay lẽ đẹp ở bạn bè thì sao chúng ta lại không học được một vài bài học quý giá nơi kẻ thù nghịch? Đâu phải bất cứ ai thù nghịch với ta đều là xấu cả, họ chắc phải có vài đức tính khả kính mà đôi khi ta lại không có. Một người có điểm khả kính như thế đáng lẽ ta phải kết bạn cầu thân hơn là chỉ vì một lầm lỗi của họ mà xem họ như kẻ thù.

Phương pháp tốt đẹp hơn cả là lấy lòng từ ái để đáp lại kẻ đối nghịch. Mới nhìn, xem ra dĩ ân báo oán có vẻ nghịch lý nhưng đó là phương pháp mà các bậc hiền nhân đã từng áp dụng và thành công. Khi có một người bất bình với ta, trước tiên ta phải xem nguyên nhân nào khiến cho người ấy bất bình. Nếu quả thật vì làm lỗi của ta, thì ta nên nhìn nhận và chịu lỗi. Nếu chỉ vì đôi bên có chỗ hiểu lầm thì sao ta không tìm lời lẽ hòa hoãn để bắt nhịp cầu thông cảm.

Còn nếu đối phương vì có tính ganh tỵ, háo thắng thì chỉ có cách ổn thỏa nhất là rải tâm từ ái đến cho họ; và chính nhờ tâm từ ái, một ngày kia có thể biến kẻ thù thành người bạn tốt.

Chúng ta hãy ghi nhớ lời khuyên của La Cordaire: "Nếu anh muốn vui sướng trong chốc lát, cứ trả thù; nhưng nếu anh muốn an vui mãi mãi thì hãy tha thứ ". Đó là dĩ ân báo oán vậy.

Hòa điệu sống

Lịch sử nhân loại chứng minh rằng những kỳ thị màu da chủng tộc, sự cuồng tín và lòng tham vọng đã đem lại nhiều bất hạnh cho con người. Những kẻ khát khao quyền uy, tiền tài, danh vọng, nếu được cộng thêm vào tính ganh tỵ thì chẳng khác nào là đổ thêm dầu, họ đã không đóng góp được gì cho hòa bình an lạc của đồng loại mà luôn luôn gieo rắc nhiễu hại cho kẻ khác.

Họ không biết hòa điệu sống, vì quên rằng nếu ta muốn sống một cách thái hòa, hạnh phúc thì phải để cho kẻ khác được sống thanh bình, an lạc. Và họ lầm tưởng rằng họ có thể sống thanh bình trên sự đau khổ của kẻ khác, nhưng thật ra họ là những kẻ đau khổ nhất trên đời.

Chúng ta có thể biến thế giới này thành một thiên đàng hay địa ngục trần gian căn cứ trên khả năng biết hòa điệu sống hay không. Phải biết sống phù hợp với những định luật tự nhiên, như định luật nhân quả, nghiệp báo, vô thường, duyên khởi để chúng ta không còn bối rối hay khó chịu mỗi khi gặp những khó khăn trên đường đời.

Đừng tưởng rằng sống phù hợp với những định luật tự nhiên đó tức là chúng ta không tiến hóa. Chính con người tiến hóa hay không là do mức độ thích ứng với những định luật này nhiều hay ít. Bằng chứng là khoa học đã ứng dụng những định luật tự nhiên hay những nguyên lý căn bản để phát minh và chế tạo.

Tất cả những môn Xã hội học, Tâm lý học, Đạo đức học, Kinh tế học... đều có những định luật riêng của nó. Nếu những định luật này được áp dụng đúng mức thì chắc chắn nhân loại sẽ sống trong hòa bình, an lạc.

Đáng tiếc là một số người sau khi đã có thế lực, tiền tài lại muốn vượt ra khỏi nhịp sống tự nhiên, hy vọng tìm được một chân trời mới lạ. Và quả thật họ đã đạt được một chân trời mới, nhưng đó không phải là chân trời hạnh phúc mà là một địa ngục trần gian với đầy đủ cực hình thảm khốc: tranh chấp, giết chóc, thù hận.

Chấp nhận phê bình

Tục ngữ ta có câu: "Mật ngọt chết ruồi" và "Thuốc đắng đả tật". Lời khen trông có vẻ ngọt ngào nhưng chỉ làm cho ta thêm cao ngạo tự đắc. Trái lại, lời phê bình chỉ trích xem ra thật là cay đắng nhưng có thể giúp ta sửa chữa được nết hư tật xấu. Vì thế mà người ta có lý khi nói rằng: "khen là thù, chê là bạn".

Chúng ta phải can đảm đón nhận những lời chỉ trích, vì trong số những lời chỉ trích đó hẳn phải có điều đúng với sự thật, khi đó ta phải cố gắng sửa sai và thành thật cám ơn người đã chỉ trích mình hơn là oán giận, tự ái. Đành rằng lòng tự ái được đặt đúng chỗ là một đức tính giúp cho ta tiến bộ. Nhưng tự ái quá đáng, nhất là trong trường hợp bị người phê bình thì chẳng những không có lợi gì cho ta mà còn gây thêm oán thù.

Mặt khác, khi thấy người lầm lỗi ta cũng nên tìm cách phê bình khéo léo để sửa sai cho họ, bằng không thì im lặng còn hơn làm cho họ mất thể diện. Chúng ta phải nhớ rằng: "Lầm lỗi mà ta thấy nơi tha nhân là phản ảnh những làm lỗi của chính mình". Vì đã làm người thì ai cũng có cái xấu cái tốt như nhau. Câu tục ngữ: "Suy bụng ta ra bụng người" không phải là không có lý. Họ chỉ hơn kém ở chỗ có biết lánh xa những cái xấu và làm những điều tốt hay không mà thôi.

Vả lại, ngoại giới phản ảnh tâm trạng của mỗi cá nhân. Lúc ta buồn, vui, hờn, giận thì ngoại cảnh cũng bàng bạc những tâm trạng đó. Một người bất chánh thấy hành động của người khác tương tự như mình đều cho là bất chánh, nhưng sự thật vị tất đã là thế.

Như vậy ta nên hoan hỷ chấp nhận lời chỉ trích đúng dù với thiện tâm hay ác ý. Nhưng khi phải phê bình kẻ khác thì ta chỉ nên phê bình với lòng từ ái.

Hãy tự thanh lọc trước

Trong kinh Dhammapada (Pháp Cú), Đức Phật dạy:

Attànam ce tathà kayirà
Yathãnnã manusàsati
Sudanto vata dammetha
Attà hi kira duddamo (Dhammapada 159)

(Dạy người như thế nào, tự mình hành động như thế ấy.
Chính mình hãy tự kiểm soát đầy đủ rồi mới dạy kẻ khác.
Vì kiểm soát được mình mới thật là khó).

Thật là hữu lý khi chúng ta lo tròn bổn phận của mình chứ không xen vào công việc của người khác. Nếu chính mình chưa rành công việc thì dù có xen vào để tiếp tay cho kẻ khác thì cũng chỉ làm cho người vướng bận thêm, lắm khi còn bị người khác oán trách, và vô tình ta làm ơn lại mắc oán. Như vậy ta nên áp dụng câu "Cá nhật tự tảo môn tiền tuyết, mạc vấn tha nhân ốc thượng sương" (Mỗi người hãy tự quét tuyết trước sân mình. Đừng thắc mắc tại sao sương rơi trên mái nhà người khác) để tự cải thiện mình. Khi mình đã được cải thiện thì tự nhiên đã nêu một gương lành cho kẻ khác.

Đức Khổng Tử cũng dạy lấy tu thân làm căn bản trước khi muốn tề gia trị quốc hay bình thiên hạ. Nhiều người khi nghe nói Bồ Tát vị tha thì nghĩ rằng cứ đi lo việc cho thiên hạ tức là trở thành Bồ Tát. Nhưng càng lo việc thiên hạ, thiên hạ càng xua đuổi, mạt sát vì thật ra họ chưa đủ tư cách, đức độ và trí tuệ của một vị Bồ Tát thật sự. Thì ra, muốn trở thành Bồ Tát phải tự rèn luyện đầy đủ Bi Trí Dũng trước đã.

Không lo âu phiền muộn

Một sự lầm lẫn đáng trách của con người là quá lo âu cho tương lai và nuối tiếc quá khứ. Đại Đức Dhammananda dạy rằng: "Bí quyết của một đời sống hạnh phúc và thành công là cố gắng làm những điều đáng làm trong hiện tại, không lo âu tương lai, không nuối tiếc quá khứ".

Chúng ta không thể trở về quá khứ để làm những việc đã rồi, cũng không thể đến trước trong tương lai để thực hiện những chương trình chưa được thực hiện trong hiện tại, hay để xem những gì xảy ra ở đó. Người Anh có hai câu tục ngữ rất phù hợp với bí quyết sống không lo âu phiền muộn này. Họ nói rằng "Let bygones be bygones" nghĩa là hãy để cho cái gì đã qua trở về với quá khứ. Và "Never trouble trouble till trouble troubles you". Đừng bao giờ lo âu về những phiền phức chưa đến.

Trong Truyền Đăng Lục có ghi:

Dục tri tiền thế nhân
Kim thân thọ giả thị
Dục tri lai thế quả
Kim thân tác giả thị

(Muốn biết cái nhân trong đời sống quá khứ hãy nhìn cái kết quả ta thu gặt trong hiện tại; và muốn biết đời sống tương lai như thế nào thì hãy xem hành động của mình trong hiện tại.)

Nếu thấy ta có sai lầm trong quá khứ thì hãy ráng cải thiện lấy mình trong hiện tại. Và muốn cho tương lai huy hoàng thì cũng hãy tạo điều kiện lành trong chính hiện tại này.

Vậy không cần lo âu tương lai, nuối tiếc quá khứ, hãy sống trong hiện tại; hãy tạo cho hiện tại một đời sống an lành, vì giây phút hôm nay là hiện thân của cả tương lai lẫn quá khứ.

Tóm lại, kiểm soát nội tâm, hành động sáng suốt, thích ứng hoàn cảnh, khiêm nhường, tiết kiệm thời giờ, kiên nhẫn, dĩ ân báo oán, hòa điệu sống, chấp nhận phê bình, tự giác, không lo âu phiền muộn là những bí quyết của một đời sống hạnh phúc. Thật ra chúng ta có rất nhiều phương pháp để tạo cho mình một đời sống an lành, nhưng chung quy cũng gói ghém trong lời dạy sau đây của Đức Phật:

Kàyena samvara sàdhu
Sàdhu vàcàya samvaro
Manasa samvaro sàdhu
Sàdhu sabbatthà samvaro

(Giữ thân trong sạch hạnh phúc biết bao.
Giữ khẩu trong sạch hạnh phúc biết bao.
Giữ ý trong sạch hạnh phúc biết bao.
Tất cả được trong sạch quả thật là hạnh phúc cao quý.)

Viên Minh - Trần Minh Tài (theo Phật Tử Việt Nam)

Không có con đường nào dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc là một con đường (There is no way to happiness, happiness is the way).