Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh. Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam:
Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.
Trong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng, Bà Triệu; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung; Cô Giang, Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng... Còn về thi văn, ta có Bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Bà Hồ Xuân Hương, Bà Sương Nguyệt Ánh... đều là những nữ sĩ tài hoa, nức
tiếng trên văn đàn, là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học. Ngoài ra, còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường, thầm lặng nơi thôn trang, xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn, những vần thơ, điệu hát, câu hò hay qua những vần ca dao phong phú.
Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy. Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:
Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân. Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình.
Người phụ nữ Việt Nam, ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ... Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ... Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn...
Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.
Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng
với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt. Không có người Việt Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.
Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:
Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Hay bâng khuâng tự hỏi:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?
Đến tuổi dậy thì, phụ nữ Việt Nam trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn... Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái.
Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Hay những người có làn da trắng nõn, má lại hồng hồng, môi đỏ thắm:
Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.
Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:
Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:
Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.
Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.
Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:
Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.
Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân... vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp
của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.
Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:
Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi..
Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:
Con ơi mẹ bảo con này,
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Và xa hơn nữa:
Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.
Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay:
Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.
E thẹn, giả đò ngó lơ, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:
Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:
Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh.
Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay.
Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:
Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.
Hay:
Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.
Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:
Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:
Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:
Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
Hoặc:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:
Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:
Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.
Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:
Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,
Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.
Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:
Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Hay là:
Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác.
Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê quán làng Cổ Lai, đất Mê Linh. Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ. Rồi vào năm 40, sau Tây Lịch, Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách, chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã, anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn. Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh, chiếm được 65 thành, đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Đến năm 42, vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù. Trước địch quân hùng hậu, quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết.
Không có hình ảnh nào vừa hào hùng, vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư”. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, từ năm 40 đến năm 43. Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng, ngài đã ngự phê: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều
đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách”. Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử:
Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.
Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu. Bà còn trẻ nhưng rất can đảm, Bà thường nói: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém kình ngư ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta”. Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ. Nghĩa binh tôn Bà là Nhụy
Kiều Tướng Quân. Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi:
Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.
Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D' Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D' Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu.
Thật xứng đáng:
Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!
Mẹ tôi là phụ nữ Việt Nam, tôi rất hãnh diện được làm một người con của phụ nữ Việt Nam. Tôi hết lòng kính yêu mẹ tôi và tôi cũng hết lòng kính mến người phụ nữ Việt Nam qua những cái đẹp và những đức tính cao quý của họ.
LÊ THƯƠNG
Richmond - Virginia
Vẫn tiếp tục cho bài vào blog
Tuesday, August 16, 2011
Monday, August 15, 2011
CHỮ HIẾU Ở NHÀ QUÊ
| |
CHỮ HIẾU Ở NHÀ QUÊ
Lương Thư Trung
Phàm làm con là phải hiếu đạo. Phép xử thế của người nhà quê là thế. Không hiếu đạo là kẻ vô nghì, bị chòm xóm láng giềng khinh miệt, chê cười là đứa con bất hiếu. Không tách rời khỏi láng giềng mà như bị cô lập giữ dòng sống nơi thôn xóm vốn lấy tình thân ái làm mối dây giao tiếp. Xem vậy từ cổ chí kim nơi thôn dã coi đạo hiếu là đạo trọng, là nền tảng mọi đạo đức của con người. Dù tiền muôn bạn vạn, lúa vựa lúa kho, ruộng vườn cò bay mỏi cánh mà ăn ở với cha mẹ không hiếu thảo, đứa con bất hiếu coi như đồ bỏ đi nói gì đến vật chất bạc tiền lúa ruộng trâu bò chỉ là vật ngoài thân chết rồi phủi hai bàn tay trắng chẳng mang theo được gì mà còn bị bia miệng để đời.
Ở nhà quê, phần đông chuyên việc đồng áng, ít ham học như dân chợ búa thành thị. Nên dân quê phần đông ít học. Thế hệ già lại càng ít người biết chữ quốc ngữ. Họa hoằn lắm mới có người học tới lớp nhất lớp nhì, nhưng đa phần lại chịu khó học chữ Hán. Chữ Hiếu nơi thôn quê được hiểu biết qua các ông đồ dạy chữ Nho mà quyển Minh Tâm Bửu Giám là một cuốn sách lúc nào cũng được lật tới lật lui tối ngày, nên ngày xưa người nhà quê phải chẻ hai miếng tre mỏng kẹp cái gáy cho sách đừng bị rách. Do vậy, đạo Hiếu ở nhà quê một phần được hấp thụ qua sách vở minh tâm. Tuy nhiên, cái đạo Hiếu ấy càng suy nghĩ cho kỹ đó chính là cái đạo tự nhiên, ông bà tổ tiên để gương lại cho cha mẹ, cha mẹ để gương lại cho con cháu rồi cứ thế từ đời này qua đời khác mà truyền tử lưu tôn làm thành cái đạo sống ở đời rất độc đáo của làng mạc, một đạo sống làm nền tảng văn hóa Việt Nam nơi làng quê luôn mang lại cho gia đình niềm an vui hòa thuận mà không phải hao tốn công sức tu luyện.
Do có trải qua những năm tháng được sanh ra và lớn lên từ nhà quê, phần đông ai cũng nhận ra chữ Hiếu được thể hiện qua lòng kính trọng thương mến của con cái đối với cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ bằng chính cái tình máu thịt mà cha mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh dưỡng ra mình. Nhận ra điều ấy để thấy đạo Hiếu ở nhà quê không lệ thuộc nhiều vào kinh điển sách vở xưa mà văn hoá Việt Nam phần nào chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa qua tứ thư ngũ kinh, đặc biệt chịu ảnh hưởng về đạo làm người của Khổng Tử. Những tấm gương hiếu đạo và những lời dạy về đạo làm con trong kinh sách phần nhiều nghiêng về phần luân lý hơn là dựa vào cái tình máu thịt ruột rà giữa cha mẹ và con cái. Nên sách vở khuyên dạy về cách báo hiếu cha mẹ đó và đồng thời cũng bó buộc phải làm theo như vậy đó, không cần biết có hợp hay không hợp với hoàn cảnh của con cái và gia đình.
Cái tình trong đạo Hiếu là cái tình thâm mà chắc chắn không sách vở nào ghi chép lột tả ra cho hết được. Thương cha mẹ không gì bằng thấy cha mẹ cực nhọc mình không nên ăn chơi phung phí là hiếu. Thấy cha mẹ không vui mình chẳng dám đùa giỡn vui đùa. Thấy cha mẹ đau yếu già nua, con cái lo miếng cháo miếng cơm thuốc thang chữa trị là hiếu. Đầu mùa lúa có hạt gạo thơm dâng cho cha mẹ nồi cơm lúa mới. Đầu mùa mưa, bắt được con cá mới lên đồng còn mập thè lè cặp trứng dâng cha mẹ miếng cá ngon. Cha mẹ nào cũng muốn con cái hòa thuận thảo ngay, mình không dám nghịch lẫn nhau là hiếu. Trong gia đạo anh em hòa hiếu, ngoài xã hội không ai dám chê cười. Bằng ngược lại anh em tranh giành nhau từng tấc đất bờ ao, từng bụi tre ngọn gáo làm cha mẹ phải rầu buồn vì con cái bất hòa, cả làng xóm chòm thôn ai cũng chê cười, đời đời bị bia miệng mai mỉa chế nhạo.
Đạo Hiếu ở nhà quê chú đến cái lòng thành hơn là cái nghi tiết nhỏ nhặt, rườm rà. Chữ hiếu càng nặng lại càng được giữ chặt trong lòng hơn là phô bày ra chiều trình diễn. Cái tình máu mũ ruột thịt là cái tình muôn đời như dòng nước ngọt không cắt rời ra được. Nó bền mà ngọt. Nó mạnh mẽ mà không khô. Nó thực tế mà không ra chiều chú trọng về mặt vật chất. Cái đạo Hiếu nó hiển hiện đó mà cũng thâm thâm diều diệu đó. Ai có lòng hiếu thảo sẽ nhận ra ngay, không cần phải giải nghĩa cầu kỳ, không cần phải trích dẫn ra hai mươi bốn tấm gương hiếu để ngày xưa trong Nhị Thập Tứ Hiếu bên Trung Hoa để mà noi theo.
Ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi không khí gia đình riêng, mỗi người dân quê có cách riêng để đạt đạo Hiếu mà không phải bắt chước gương hiếu này hạnh thảo kia cho mình. Chính vì vậy mà chữ Hiếu ở nhà quê mỗi thời mỗi khác, mỗi nơi mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác nhưng có chung nhau tình máu thịt ruột rà giữa con cái đối với cha mẹ rất thấm thiết không có luật lệ nào can dự vào đạo lý gia đình nơi thôn quê được. Xem như điều này cũng không trái với đạo Khổng bàn về chữ Hiếu. Chẳng hạn cũng cùng chữ Hiếu, khi được các đệ tử hỏi về cái nghĩa lý của nó, mỗi người được Khổng Tử trả lời khác nhau. Với Mạnh Ý Tử, Khổng Tử đáp :”Vô vi”; với Mạnh Vũ Bá, Khổng Tử đáp:”Phụ mẫu duy kỳ bệnh chi ưu”; với Tử Du, Không Tử đáp:”Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã dai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ?”; với Tử Hạ, Khổng Tử đáp:”Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu tửu tự, tiên sinh soạn: tằng thị dĩ vi hiếu hồ?”
Trong giới thức giả tiền bối, dường như người nào thành nhân chi mỹ cũng coi chữ Hiếu là trọng. Một Vương Hồng Sễn, khi tuổi trời đã chín mươi, mà mỗi lần nhắc lại mẹ cha ông đều nghiêng mình nhỏ lệ để tỏ lòng hiếu đạo với bậc sanh đẻ ra mình. Một Nhất Hạnh với Bông Hồng Cài Áo, một Võ Hồng với Một Bông Hồng Cho Cha. Đặc biệt, với học giả Nguyễn Hiến Lê với Làm Con Nên Nhớ đã có lời sám hối:” Tình thương của cha mẹ tự nhiên như nước chảy xuôi, mà lòng hiếu của con phải nhờ giáo dục, nhờ kinh nghiệm rồi mới có.(...) Nước chảy xuôi hoài cho tới khi cạn. Cha mẹ cứ muốn giúp con hoài cho tới khi chết.(...) Trong cái trào lưu sinh hoạt vĩnh viễn bất tuyệt của loài người, nước đã chảy đi thì không bao giờ trở lại về nguồn. Hỡi các bạn trẻ sắp lập gia đình, như dòng nước sắp bắt đầu rời suối, các bạn nên ngừng bước lại một chút, quay lại nhìn về nguồn để hiểu nguồn thì trên đường đời các bạn đỡ phải ân hận, đỡ phải sám hối như hôm nay tôi sám hối trên bàn viết, trước mặt bàn thờ ba má tôi mà lư trầm đương lặng lẽ toả hương.”(Bách Khoa số 207 ngày 15-8-1965. Phật lịch 2509)
Người nhà quê mấy ai được đọc những sách vở viết về lòng hiếu thảo ấy trong Luận Ngữ của Khổng Tử, của Nhất Hạnh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê. Thành ra, đạo Hiếu nơi người nhà quê là cái đạo tự nhiên như trời có gió, nước có nguồn, cây có bóng mát làm cho phong phú thêm tâm hồn của họ vốn đã chất phác giản dị hiền hoà như mái lá ven sông càng ngày càng phong phú thêm nữa. Nghèo mà sạch. Ít học mà thơm lâu là vậy. Lòng hiếu thảo ấy là cội nguồn của một nền văn hoá rất ư gần gũi, ai cũng biết, ai cũng thấy, thời nào cũng cần giữ gìn. Trở về nguồn không gì bằng trở về nhìn lại những tình tự rất tha thiết, rất thực thà của dân quê trong đạo Hiếu đối với cha mẹ.
Trong trời đất con người là chánh. Trong gia đình đạo Hiếu là trọng. Không làm tròn đạo Hiếu là một thiệt thòi lớn của kiếp làm người. Không ai bắt tội mình kể cả cha mẹ. Mà chính mình sẽ tự trách mình suốt đời nếu để lỡ một dịp may không làm được những gì một người con cần làm để cha mẹ vui lòng.
Mùa Vu Lan 2003
(*) Mạnh Ý Tử hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp :”Không trái”; Mạng Vũ Bá hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp:”Cha mẹ chỉ lo cho con bị bệnh tật”; Tử Du hỏi về đạo hiếu, Khổng tử đáp:”Ngày nay người ta cho hiếu là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến chó, ngựa kia, người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác gì ?”; Tử Hạ hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp:”Khó ở chỗ giữ được nét mặt vui vẻ. Khi cha có việc, con phải khó nhọc (để giúp cha mẹ), hoặc khi có cơm rượu, mời cha ăn uống, như vậy đủ gọi là hiếu chăng? (Theo Luận Ngữ, Nguyễn Hiến Lê, nhà Văn Nghệ xuất bản, Hoa Kỳ , 1994.)
AN-GIANG, MỘT VÙNG CỔ TÍCH Ở PHƯƠNG NAM
Lương Thư Trung
AN-GIANG, MỘT VÙNG CỔ TÍCH Ở PHƯƠNG NAM
Bạn ơi, có lần nào bạn đi ngang qua An Giang chưa? Nếu chưa, xin bạn nên ghé lại thăm An-Giang đôi ngày vì địa danh này đã gợi cho bạn nhiều hấp dẫn từ một dòng sông, dòng An-Giang. Phải thế không bạn? Người nghệ sĩ ngợi ca dòng An-Giang có cái lý riêng của họ mà tự dòng sông này cũng đẹp mát lạ thường.
Ngày xưa, khoảng những năm 1950-1960, nếu bạn từ miệt dưới Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre lên hoặc từ trên Sài Gòn, Tân An, Mỹ Tho xuống theo con đường liên tỉnh số 8, từ Sa Đéc lên khoảng ba mươi cây số là bạn đang ở địa phận quận lỵ Lấp Vò. Con đường số 8 thời xưa ấy hoang phế lắm với những lùm cây mắc cở, thù lù, cỏ lông gà mọc đầy hai bên đường và đá xanh trải mặt đường thì lởm chởm ổ gà, lỗ chân trâu làm cho bạn nhiều lúc đang ngồi trên chuyến xe đò cũ kỹ đôi lúc muốn nhảy chồm lên, dài khoảng ba cây số, từ chợ quận Lấp Vò sẽ đưa bạn đến bến bắc Vàm Cống. Nơi mà ngày xưa lúc Tây mới đến nơi này , để có nước sạch cho dân tiêu dùng, chính quyền địa phương hồi ấy bèn cho đào con kinh ăn thông vô một cái chợ nhỏ, nước lớn từ sông Hậu chảy vô rồi khi nước ròng nước lại tháo trở ra sông Hậu, ở miệng ra vào, người ta mới đặt ống cống rất lớn để điều chỉnh nước thông thương mà có tên là Vàm Cống (1), và ngày nay dấu tích cũ đâu rồi vì vàm nước từ sông Hậu này nay đã thành vàm sông rộng lớn mênh mông nước là nước.
Đây rồi, dòng An Giang đang rộng thênh thang phía trước mặt bạn. Từ mặt sông những ngọn gió nồm mát rượi thổi hiu hiu từ bên kia bờ phía An Giang làm bạn quên cái cảm giác mệt nhọc trên đoạn đường đá gồ ghề mà bạn vừa đi qua. An Giang đang chào đón bạn! Những chiếc bắc cồng kềnh như những "bè thủy lục" mệt nhọc chở những xe cộ cùng khách bộ hành từ bao mùa như chở những mảnh đời cũng mệt nhọc qua dòng An Giang xanh xanh nước biếc ngọt ngào. Những con sóng bạc đầu từ hướng Cần Thơ ào ào tràn lên mùa gió chướng hay những con sóng lưỡi búa nhấp nhô từ bên kia sông giạt về bên này sông vào mùa gió nồm từ hướng Rạch Giá kéo về như những kiếp bọt bèo chìm nổi theo gió, theo dông tuần hoàn bất tận. Những ngọn sóng làm chòng chành chiếc bắc như muốn xô hết những gì mà nó đang
Bắc Vàm Cống(Long Xuyên-An Giang)
mang trong lòng một cách nặng nhọc, nhưng rồi chiếc bắc vẫn cố gượng dậy để đưa bạn đến bên kia bờ An Giang sau hơn hai mươi phút vượt qua con sông sâu có bề ngang phình rộng ra này.
Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng gặp những mùa gió chướng, gió nồm như vậy vì gió có mùa của gió, bạn đi qua dòng An Giang này có cái hạnh ngộ thật thú vị của bạn với dòng sông. Nếu bạn sang sông vào buổi sáng, bạn sẽ gặp dòng sông phẳng lặng đến hiền hòa. Bạn sẽ thấy cảnh bình minh trên sông với mặt trời bò chầm chậm từ dưới nước bò lên, vượt qua những rặng cây ở phía chân trời xa xa về hướng đông nơi làng Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây nằm vắt võng trên cái cù lao tưởng chừng lấp ngang dòng nước chảy xuôi ra biển, cách chợ quận Thốt Nốt một chuyến đò ngang. Ánh mặt trời để lại trên dòng nước một tấm thảm nắng ấm màu vàng ửng thật rực rỡ, chứa chan biết bao hy vọng của một ngày mới...Có lẽ nhân loại nói chung và cư dân vùng châu thổ dọc theo con sông Cửu Long này nói riêng, sống được là nhờ nước ngọt và sự có mặt của ánh sáng mặt trời.
Ngày nay khách sang sông nơi bắc Vàm Cống khi trời sụp tối
Tại ngã ba Vàm Cống phía bến kia sông, giữa vùng đất phương Nam, nhưng bạn vẫn nghe nhiều người nói giọng Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn hết sức bình thường, tự nhiên như ngay ngoài miền Trung mà thân tình. Nếu bạn rẽ về tay trái, bạn sẽ đi về Cần Thơ hoặc vào Rạch Giá theo hai lối rẽ khác nhau sau khi cùng đi chung một đoạn đường ngắn độ năm cây số. Cần Thơ xuôi về miệt dưới theo con đường số 9; Rạch Giá theo con đường số 8 về vùng biển ngàn trùng...Dĩ nhiên, bạn rẽ về tay mặt ngay khi vừa rời bến bắc là bạn đang đi về hướng tỉnh lỵ Long Xuyên, cách Vàm Cống chín cây số. Nhưng xin bạn cứ thư thả nhìn ngắm con đường mà bạn sắp đi qua vì có lẽ lâu lắm rồi bạn mới đến An Giang một lần, nên đâu phải vội vàng gì, phải thế không bạn?
Khởi đi từ Vàm Cống này, hồi ấy, bạn sẽ theo con đường trải nhựa mà hai bên đường là những vườn xoài, nhà cửa san sát chạy song song với dòng An Giang bên tay mặt và cánh đồng ruộng bao la về bên tay trái của bạn. Cánh đồng ruộng không có những rặng cây che ngang tầm mắt càng làm bạn thấy cánh đồng rộng thênh thang biết dường nào! Nó chạy tít mù xuống tới Cái Sắn, rồi chạy miết đến khu di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 trong Tân Hiệp với những con kinh đào băng ngang cánh đồng lúa hướng về con kinh Thoại Hà về phía núi Núi Sập, Ba Thê xa xa ở hướng tây nam; chúng mang tên những mẫu tự quốc ngữ như A, B, C, D, E, F, G, H... như những vết cắt nằm song song trên cánh đồng bằng. Nếu kể những địa danh gần hơn chút nữa, bạn sẽ nghe tên gọi quen quen những cánh đồng như Cái Sao, Bờ Ao, Bắc Dục, Vĩnh Chánh, Phú Hòa. Bạn có thể tưởng tượng giữa cánh đồng ruộng đất bùn lầy ngàn trùng này lại có một vùng đất toàn là đá với đá. Những tảng đá nằm lúp xúp pha lẫn những lung vũng mà nông dân nơi đây gọi là vùng đá nổi, cách Bờ Ao, Bắc Dục không xa. Có thời sau năm bảy mươi lăm, người ta lại đổ xô về đây bòn vàng. Tuy không rầm rộ nhưng cũng tạo cho vùng quê này chút không khí sôi động, ồn ào. Tôi đã tận mắt nhìn thấy những vồ đá thấp, cùng những vết tích do người ta đào ruộng bòn vàng nơi đây còn để lại vào những ngày của các năm 1980 ấy nhiều lần qua những lần nuôi vịt chạy đồng ngang qua những miếng ruộng nơi này vào mùa cắt lúa tháng Hai, tháng Ba. Nhưng có lẽ vàng bòn được không bao nhiêu, nên người ta không quấy rầy những miếng ruộng an phận giữa đồng không mông quạnh này. Và rồi đá vẫn nổi giữa cánh đồng, những vồ đá bằng phẳng như những mặt bàn lộ thiên của các vị tiên ngồi ngắm trăng mùa nước cạn... Lác đác các loài chim muông như cò, diệc, gà đãi, gà nước, trích rừng dừng chân rỉa lông, nghỉ cánh hoặc chân bước lăng xăng như những chú tiểu đồng mang trà, rượu cho các chàng "ngư, tiều, canh, mục" đang ngồi nhâm nhi giữa cảnh đẹp của thiên nhiên, ruộng đồng thơm thơm mùi rạ mới ngạt ngào...
Giữa cánh đồng sâu hun hút này, có lẽ bạn cũng không ngờ có con kinh đào mà cư dân dọc hai bờ kinh nói rặt giọng miền Trung như những người mà bạn gặp ở ngã ba Vàm Cống. Nghĩ cho cùng, có lẽ tổ tiên chúng ta từ những ngày xa xưa xuất phát từ Quảng Nam, từ Huế mà lưu lạc đến đây cho đến tận bây giờ như một dòng chảy bất tận của một dòng sông Nam tiến vậy. Nên người dân An Giang thời nào cũng dễ cảm thông và sống hài hòa với mọi miền như những ngày tháng sau hiệp định Genève 1954 với cư dân vùng các con kinh ở Cái Sắn, Tân Hiệp. Phải chăng đây là một trong những nét đẹp của tấm lòng người phương Nam nói chung và An Giang nói riêng.
Vì là vùng sông rạch chằng chịt, nên trên đường bạn đi, bạn phải đi qua những chiếc cầu đúc bắc ngang những con rạch nhỏ. Rạch Cái Dung, rạch Cái Sao, Cống Bà Thứ, rạch Gòi Bé, rạch Gòi Lớn, rạch Tầm Bót, rạch Cái Sơn để vào thăm Long Xuyên như về một thủ phủ thật đẹp và hiền hòa. Những con rạch mang phù sa từ dòng An Giang bồi bổ cho những miếng ruộng phì nhiêu bên tay trái đầy những bông lúa vàng. Long Xuyên mà bạn đang dừng chân có lẽ đã có từ thời có cuộc di dân từ hơn hai trăm năm mươi năm của tổ tiên chúng ta, nhưng nó được kiến thiết và mở mang rộng lớn như ngày nay là vào những năm 1950 với người có công lớn nhất với tỉnh lỵ Long Xuyên này là Ông Nguyễn Ngọc Thơ. Dường như Long Xuyên có cái dáng vẻ đặc biệt riêng, không giống bất cứ thành thị nào mà tôi có dịp đã đi qua hơn ba mươi tỉnh lỵ miền Nam. Khu hành chánh bên kia cầu Hoàng Diệu với Tòa hành chánh tỉnh, Tòa án, Ty bưu điện, Ty ngân khố, Sở giáo dục, trường học, nhà thương và nhiều ty sở khác như một vùng yên tĩnh. Bên này cầu Hoàng Diệu là khu thương mại, chợ búa, phố xá, khách sạn, rạp hát, bến đò, bến xe tấp nập, ngược xuôi... Và những đường phố của Long Xuyên khang trang với những dãy phố chạy dài cùng một lối kiến trúc giống hệt như nhau, không cao, không thấp, không trồi, không sụt như những bộ đồng phục mà bạn không thấy bất cứ nơi thị tứ nào mà bạn đã đi qua vùng đồng bằng miền Tây Nam phần.
Công viên Trưng Vương chạy dài từ đường Phan Đình Phùng đến đại lộ Tự Do như gương mặt diễm kiều của thị xã với những gốc trúc đào, những cây dương, những cánh hoa mười giờ màu tím than, những cây tùng xanh biếc quanh năm. Cầu Hoàng Diệu mà tên gọi thời Pháp thuộc là Henrie Rivière, bắc ngang con sông đào Long Xuyên-Rạch Giá như một kỳ quan vùng đồng bằng này, nối liền hai khu vực của thị xã như đan kết hai mảnh đời dính liền lại với nhau. Với hai dãy trụ đèn cao gần bằng những chiếc cột nhà ngói cổ dọc hai bên thành cầu từ xa xa bạn nhìn giống như những cổng tam quan đang đón bạn đi qua thành phố. Nếu bạn nhìn xuống dòng nước trôi xuôi về miệt núi Sập phía dưới chân cầu, bạn sẽ thấy chiếc cầu Hoàng Diệu đang in dáng dấp lung linh trên dòng sông tuyệt đẹp. Sau này có thêm chiếc cầu Duy Tân, song song với nó, nối liền bến chợ với nhà thương Long Xuyên, nơi mà những năm 1940-1945 chiếc ghe tam bản của tía má tôi tản cư đậu nơi bến nhà thương này, nhưng không sánh kịp về cái dáng đẹp đã có tự bao năm ...
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) nhìn từ bờ sông đường Quang Trung với những dề lục bình, cỏ xước, rau muống thân thiết với bến sông xưa dù có phải nhuốm màu thời gian qua bao mùa biến đổi...
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) về đêm với ánh đèn dọc theo các trụ cầu phản chiều ánh sáng lung linh lên mặt nước.
Hàng cây trứng sấu to lớn trở thành những cây cổ thụ trên đường Đinh Tiên Hoàng phía bên kia cầu Hoàng Diệu chạy ngang qua khu học đường thật bệ vệ trang nghiêm. Nào là trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ, trường Nữ Tiểu Học với lớp lớp học trò nhỏ vui đùa của biết bao thế hệ nối đuôi nhau theo dòng thời gian mà những năm cuối thập niên 1940 tôi có dịp dự phần cùng các lớp học trò bé nhỏ ấy. Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu có cổng chánh bên đường Gia Long với những hàng dương liễu thướt tha chung quanh trường, có lẽ sẽ làm cho bạn nhớ về ngôi trường nào một thời mà bạn đã mài đũng quần. Trường này có may mắn là có nhiều vị giáo sư danh tiếng về dạy. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê, ngày xưa cũng dạy nơi đây ba niên học.
Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) năm 1959
Phía trước trường, gần cổng chánh, có ngôi miếu tiên sư thật trang nghiêm để thờ phượng các vị giáo sư của trường quá cố như tấm lòng nhớ ơn của học trò cùng hậu thế dành cho các thầy, như một nét văn hóa thật đẹp và cao quý của trường. Và có lẽ, tại Long Xuyên này, học sinh hết mực thương mến thầy. Trong hồi ký, nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc lại tình thầy trò:" Dạy ba năm ở Thoại Ngọc Hầu mà non ba chục năm sau, bây giờ về Long Xuyên còn gặp được năm sáu trò cũ coi tôi như cha, có trò thân mật như người trong nhà; điều đó làm cho tuổi già của tôi được vui." (2) Tình thầy trò ngày xa xưa ấy thật đầm ấm, thiết tha nhưng trang nghiêm, cao quí biết dường nào!
Hoàng hôn trên nền trời Long Xuyên (An Giang).
Nhưng có lẽ nên mời bạn đến thăm công viên Nguyễn Du bên bờ dòng An Giang, nằm song song con đường Lê Lợi, với những giàn bông giấy, những cánh hoa trúc đào, những cánh hoa phượng đỏ đứng soi mình lướt thướt bên bờ đá xây cặp dòng sông, nơi mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc trong hồi ký của ông, cứ mỗi lần đến đây ông có cảm tưởng như đang hưởng cái thú "giang thượng chi thanh phong" của Tô Đông Pha vậy. Công viên Nguyễn Du này tình tứ thật, nhất là những đôi tình nhân thời còn cắp sách thì tuyệt diệu vào những ngày năm sáu mươi năm xa xưa ấy. Ngày nay nước của con sông Cửu Long cạn dần vì các đập ngăn nước làm thủy điện trên các nước thượng nguồn và bờ đá nơi công viên Nguyễn Du cũng đành phải xa mặt nước sông để trơ ra bãi bùn và vài ba bụi cỏ dại lưa thưa nơi bến sông xưa, mà ngày xưa lúc nào nơi mé sông này cũng lé đé nước với những lượn sóng rì rào theo gió lô xô va vào bờ đá như một điệu nhạc của gió, của sóng, của sông nhịp nhàng không dứt ...
Công viên Nguyễn Du ngày nay với bờ sông Cửu Long nước cạn xa bờ, để trơ những bụi cỏ bên bờ sông cạn.
Hồ Bình Đức (Long Xuyên) đường Lê Lợi, bên cạnh công viên Nguyễn Du ngày nay nước cũng xa bờ .
Dù vậy, ngày xưa, nếu bạn xuống con đò nhỏ về bên kia cồn Mỹ Hòa Hưng, ngang công viên Nguyễn Du, bạn sẽ lạc vào chốn thiên thai với những vườn cây ăn trái phủ phục, oằn nhánh, nặng cành. Nào xoài, ổi, mận chẳng thua gì vườn ổi ở bến bắc Cần Thơ, nếu không muốn nói cư dân nơi Mỹ Hòa Hưng này chơn chất, ngọt ngào như cây trái mà họ trồng trong vườn... Bạn có thể ăn trái cây đầy bụng, nếu bị xót ruột, họ sẽ mời bạn dùng cơm với họ như người thân trong nhà.
Để tiếp tục cuộc hành trình, vì An Giang thì quá rộng, xin mời bạn trở lại Long Xuyên để về thăm Châu Đốc như một chuyến hành hương trở lại vùng cổ tích. Trước lúc rời khỏi Long Xuyên, có lẽ nên mời bạn ăn một bữa cơm với canh chua cá hô hoặc cá bông lau cùng cá rô kho tộ béo ngậy.
Cá hô đất trắng (mà người Thái gọi là chép), một loài cá lớn và ngon của sông Cửu Long, chiều dài tối đa của chúng có thể lên tới 2,4m và cân nặng tới 250 kg.( nguồn: hubpages.com).
Cá hô đất đen của sông nước Miền Tây. (nguồn: answers.com)
Cá tra dầu thuộc hạ lưu sông Cửu Long (nguồn: National Geographic)
Nhưng ở đây có món mắm kho cũng ngon đáo để không thua gì mắm Châu Đốc mà ngay cả người sành điệu như Cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có lần đã phải khen (3):
"Thú ăn chơi cũng gọi rằng,
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian.
Hà tươi cửa bể Tu-ran,
Long Xuyên chén mắm, nghệ An chén cà ."
(Thú ăn chơi)
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian.
Hà tươi cửa bể Tu-ran,
Long Xuyên chén mắm, nghệ An chén cà ."
(Thú ăn chơi)
Tôi không biết "cà Nghệ An" thơm ngon như thế nào vì chưa có dịp được thưởng thức, nhưng chắc chắn mắm Long Xuyên với hương vị đậm đà quê hương và độc đáo lắm!
Thế là mời bạn đi theo con đường liên tỉnh số 9 về miền Châu Đốc để bạn có dịp nghiệm lại mấy vần ca dao mà người miền quê ở đây ai ai cũng hát dỗ em như nằm lòng:
"Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,
Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,
Có một mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?!!!"
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,
Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,
Có một mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?!!!"
Bắc Châu Đốc (An Giang)
Trên con đường khoảng năm mươi cây số này bạn sẽ đi xuyên qua những cánh đồng đầy lúa là lúa. Khi bạn đến ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng, đường đi Tri Tôn, bạn có thể dừng lại nơi đây trong chốc lát để thưởng thức món bánh tét vùng này. Những hạt nếp mới mà mềm và thơm mùi lá dứa ngạt ngào, làm bạn nhớ mẹ ngày xưa cũng nấu cho mình những nồi bánh tét nhưn đậu, nhưn chuối vào những ngày giỗ chạp, tết nhất mà thương mẹ nhiều hơn vì đã quá vất vả với mình. Từ đây nếu bạn theo con đường rải đá xanh, bạn sẽ về Cần Đăng, Hang Tra, Trà Kiết, Cầu số 5, Tri Tôn. Ngày xưa, con đường này vắng ngắt, mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò hiệu Thành-Long ột ệt bò từ Tri Tôn xuống Long Xuyên rồi trưa trưa lại bò về hết sức mệt mỏi. Riết rồi, trẻ con trong vùng mỗi lần thấy chiếc xe đò bò ngang qua vạt lúa của mình mà nhớ câu hát huê tình cười đùa mang nhiều ý nghĩa:
" Thành Long chạy tắt đường đồng,
Mấy cô chưa chồng lại muốn Thành Long."
Xe đò Tri Tôn-Long Xuyên, Tri Tôn-Châu Đốc những năm 1950 (Nguồn: TSCĐ)
Theo con đường này, bạn nhìn về hướng tay trái, xa xa dưới kia có rặng cây băng ngang cánh đồng nối liền hai vùng Vĩnh Hanh, Hang Tra với Ba Bần là kinh xáng Bốn Tổng. Con kinh thẳng nên rặng cây xanh rì cũng thẳng như một nét mực Tàu vẽ lên nền trời trong vắt, mà hai ngọn núi Ba Thê, Núi Sập trong kia cũng khuất một phần chân bên kia rặng cây xanh. Ba bên bốn bề lúa là lúa. Bạn mà lọt vô vùng tứ giác này, có đủ các món nhậu để đãi bạn, từ chuột, rắn, rùa, cá lóc, lươn, tôm, chim muông đủ loại như một kho vô tận, nhất là vào những năm xa xưa còn làm lúa mùa chẳng thiếu món ngon vật lạ nào thuộc vùng đồng ruộng.
Ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn ngày nay, ngày xưa nơi này vắng vẻ lắm, chỉ lưa thưa vài ba mái lá bán bánh tét nhưn chuối, nhưn đậu chokhách bộ hành trên những chuyến xe đò Tri Tôn-Long Xuyên qua lại nơi này.(Nguồn: TSCĐ)
Tiện đây nhắc một chút về địa danh Hang Tra mà có lẽ các bạn mới nghe lần đầu. Là vùng heo hút nơi thôn cùng này, nhưng Hang Tra lại có lần ghi tên mình vào sử sách qua trận đánh Pháp của Quản Cơ Trần Văn Thành vào ngày 20 tháng Hai, năm Quí Dậu (1873). Quản Cơ Trần Văn Thành, theo sử sách, quê ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thuận Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (4); nay là ấp Bình Phú, xã Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), quận Châu Thành, tỉnh An Giang. Để nhớ công ông, tại làng Bình Hòa trên con đường bạn sẽ đi qua ngang cầu sắt Mặc Cần Dưng có ngôi trường trung học mang tên Quản Cơ Thành.
Ngoài ra vùng đất An Giang còn rất nhiều sĩ phu, hào kiệt nữa mà bài viết ngắn này không tiện ghi ra hết được. Nhưng có lẽ cụ Thoại Ngọc Hầu là một trong những tiền nhân có công nhất trong việc kinh bang tế thế và mở mang vùng An Giang này mà ai ai đã đọc sử sách cũng đều am tường. Những di tích mà Ngài đã để lại như kinh đào Long Xuyên- Rạch Giá, kinh Vĩnh Tế dọc biên giới Việt-Miên là những bằng chứng cụ thể.
Để trở lại con đường số 9 về Châu Đốc, bạn sẽ qua khỏi cua Mặc Cần Dưng đến Năng Gù, một xóm đạo lớn nhất An Giang này. Và chính vị cố đạo Conte coi nhà thờ Năng Gù, vào năm 1891 đem một giống lúa ở Cao Miên về đây gieo giống thử. Nó sống và lên theo kịp nước lụt, nên người Pháp gọi là lúa nổi (riz flottant), còn người Việt mình gọi là lúa mùa, lúa sạ (5) vì giống lúa này chỉ cần cày bừa rồi chờ mùa mưa xuống là sạ, rồi chờ đến mùa lúa chín là cắt gặt và mỗi năm chỉ làm lúa một mùa duy nhất mà thôi (sạ vào tháng ba, tháng tư, cắt gặt tháng chạp, tháng giêng âm lịch).
Tại Năng Gù này, nếu bạn xuống đò đi ngang qua dòng An Giang bạn sẽ đến những ngôi làng trù phú trên các cồn cát với rẫy đậu, bắp, thuốc lá cùng vườn cây ăn trái, ruộng lúa. Những cù lao trên dòng sông Cửu Long trong địa phận An Giang này thật sự là một thánh địa với ngôi làng Hòa Hảo, làng Hưng Nhơn, quận Chợ Mới, với xã Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Long Kiến, Mỹ Luông, cù lao Ông Chưởng, cù lao Ông Hổ, cù lao Giêng với xóm đạo Công giáo và trại mồ côi khá lớn được tạo dựng từ lâu đời. Riêng Cù Lao Giêng, vào những ngày gần cuối năm 1967, chúng tôi có dịp theo phóng viên Việt Tấn Xã đến thăm trại cô nhi cùng xóm đạo này, nhờ vậy mới thấy vùng đất An Giang, đâu đâu tình thương yêu cũng tỏa ra như một vùng đất thánh. Ngay địa phận hai xã Hòa Hảo và xã Hưng Nhơn, trên Chợ Mới một đổi, sông Tiền Giang phía Tân Châu và sông Hậu Giang phía Châu Đốc ăn thông với nhau bằng con sông Vàm Nao có bề ngang rộng đến hơn hai cây số với lưu lượng nước rất mạnh và những dòng nước xoáy ngầm làm xụp lở bờ sông mỗi ngày mỗi lớn thênh thang. Nơi đây thường xảy ra những cảnh chìm ghe chết người vào những mùa dông mưa, bão tố mà hồi còn nhỏ chúng tôi thường nghe ông bà xưa kể lại tại Vàm Nao này có ông Năm Chèo nuốt vào bụng nhiều mạng người mỗi lần ghe xuồng qua sông trên khúc sông sâu và rộng bao la với sóng to gió lớn vào mùa gió chướng. Sông Vàm Nao, theo tương truyền, vào thời cụ Thoại Ngọc Hầu đào kinh Rạch Giá-Long Xuyên và kinh Vĩnh Tế vào đời vua Gia Long, chỉ là một con rạch nhỏ nhưng rất nhiều cá sấu (6), nên việc qua lại vùng này vô cùng ghê rợn. Nhớ hồi còn nhỏ, mỗi lần trẻ con khóc mà dỗ hoài không nín, chỉ cần người lớn dọa:" Còn khóc, ông Năm Chèo nuốt vô bụng" là đứa bé nín liền.
Bắc Vàm Nao (Chợ Mới, An Giang)
Nhắc cù lao Ông Chưởng là nhắc cụ Chưởng Binh Lễ, người có công trong việc đánh tan giặc Xiêm và giặc Miên cùng với Đốc Binh Vàng vào năm 1837, nhưng cả hai ngài đều tử trận và để tưởng nhớ công đức, hai ngài đều được triều đình phong làm Phúc Thần và được dân chúng lập đền thờ, cúng tế trang nghiêm, cùng đặt tên các kinh rạch, cù lao, đường xá, trường học tại địa phương. Chúng tôi ghi lại câu ca dao này để các bạn biết cả một vùng sông rạch này cá tôm nhiều vô số kể:
"Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm."
Quang cảnh của một con kinh vùng đất An Giang ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)
Trên dòng An Giang mà bạn đang theo dòng, vào mùa nước giựt, bạn sẽ thấy hàng hàng lớp lớp những dề lục bình trôi bềnh bồng trên dòng nước xuôi về hạ nguồn với những cánh hoa màu tím đung đưa trong gió, mang mang nỗi buồn về những mảnh đời vô định không bến, không bờ... Thời Pháp đô hộ có cả những thây ma bị Tây giết thả trôi sông tấp theo những dề lục bình... Rồi chợt nhớ về những vần thơ của một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm hoài:
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều .
Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
Sông dài trời rộng, bến cô liêu .
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng ..."
(Huy Cận) (7)
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều .
Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
Sông dài trời rộng, bến cô liêu .
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng ..."
(Huy Cận) (7)
Bông tím lục bình
Trở lại bến đò Năng Gù, mới bạn về thăm Châu Đốc với biết bao cảnh đẹp. Nhưng có lẽ từ trên bờ sông Châu Đốc được cẩn bằng những thềm đá xanh cao vòi vọi mà dòng nước tháng giêng thăm thẳm dưới xa kia cho bạn nhận ra lời ví trong ca dao gần gũi bạn hơn: "Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc..."
Đường xuống dốc bên hông lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang)
Bồ Đề Đạ Tràng (Châu Đốc) (Nguồn:Hình do ĐD& LT chụp năm 2005, TSCĐ)
Chợ Châu Đốc thời xa xưa có đặc điểm là chuối thường để nguyên quầy, không cắt ra từng nải một và dù ban đêm nhưng chuối vẫn treo đầy trong các sạp, không cần phải dọn dẹp và sáng hôm sau lại bán tiếp tục mà không bị mất cắp. Dĩ nhiên bạn nên mua vài keo mắm thái, mắm trèn ngon ơi là ngon để làm quà cho bạn bè. Tại đây bạn có thể đi thăm Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã, thăm Núi Sam với thánh miếu Bà Chúa Xứ, lăng cụ Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An. Nhưng với Châu Đốc, có lẽ cũng xin nhắc cùng bạn nơi vùng đất thuộc An Giang này có những mùa nước lên ngập lút các đường phố vào những năm 1960, 1961 qua một vài tấm hình nước ngập tràn bờ bên cạnh như một dấu tích một thời. Bạn đừng ngại, ngày xưa vùng An Giang này hằng năm nước đều lên như vậy, và nhờ nước lên đồng ruộng mới được bồi đấp phù sa mà xanh tốt, cá tôm trên sông trên đồng mới hè nhau làm vui bụng dân nghèo sống bằng nghề câu lưới tới mãn mùa…
Công viên Châu Đốc ngập lụt năm 1961(Nguồn: TSCĐ)
Đường Bạch Đằng (Châu Đốc) mùa nước lụt năm 196i.(Nguồn:TSCĐ)
Thị xã Châu Đốc mùa nước lụt năm 1961 (Nguồn: TSCĐ)
Nếu bạn theo con đường liên tỉnh lộ dọc con kinh Vĩnh Tế để về thăm Ba Chúc mà từ những năm xa xưa cách nay hơn năm mươi năm chúng tôi đã đến vùng này vào lúc Ba Chúc bắt đầu được khai mở làm thành "khu trù mật". Rặng núi nằm chắn một vòng thật dài như một thành lũy ngăn bước gây hấn của quân Miên có tên là Bảy Núi in hình lên nền trời thật hùng vĩ. Chúng tôi không có dịp đi hết qua các ngọn núi này nhưng ông bà xưa có kể tên các ngọn "Thất Sơn" này như sau, xin ghi lại cho bạn: Núi Két, Núi Cấm, Núi Bà Đội Om, Núi Voi, Núi Dài, Núi Cô Tô, và Phụng Hoàng Sơn.
Đường vô núi Sam (Châu Đốc) ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)
Việc đặt tên các núi, ông cha xưa thường căn cứ vào hình dáng ngọn núi mà đặt tên, nên mới có những tên núi như những hình ảnh vừa kể mà ai ai cũng nhận ra được. Thất Sơn là một vùng với nhiều giai thoại huyền bí nhưng có lẽ những người Việt bị giặc Miên giết chết năm Pôn Pốt tràn qua còn để lại
nhiều sọ người chất cao như núi tại một ngôi chùa là một trong những niềm đau xót mà chúng ta cần chia sẻ. Xin các bạn dành một phút để mặc niệm những oan hồn của đồng bào xấu số chết tức tưởi nơi vùng biên cương này khi đất nước quá nhiễu nhương!
Tại bến đò Châu Giang, ngày xưa ấy, bạn sẽ bắt gặp các cô học trò đi học bằng đò chèo qua sông giữa sông nước mênh mông. Những bông hoa biết nói ấy ngày nay có lẽ tuổi đời đã chồng chất nhiều rồi nhưng họ đã có một thời làm nên nét đẹp vùng châu thổ ấy, tuyệt diệu biết dường nào!
Đi học bằng đò ngang trên sông Châu Đốc nơi bến đò Châu Giang (Châu Phong) mùa nước lên. (Nguồn: TSCĐ)
Rồi qua vài con rạch nhỏ, không đi học bằng đò,các cô nữ sinh ngày xưa với tà áo dài trắng thanh khiết, thướt tha, họ bước chân lên những nhịp cầu tre lắc lẻo mà tâm hồn thiếu nữ man mác trữ tình. Cầu khỉ và bóng dáng nữ sinh một thời áo trắng làm bức tranh quê vùng An Giang thêm đẹp lạ kỳ! Phải thế không bạn ?
Đi học mùa nước ngập qua cây cầu tre lắc lẻo(Nguồn: TSCĐ)
Nếu bạn đi thêm mười bảy cây số về hướng đông, bạn sẽ gặp một thị trấn tơ tằm và buôn bán phồn thịnh nằm bên bờ sông Tiền: Chợ Tân Châu. Tân Châu nổi tiếng với hàng lãnh Mỹ-A, hang Cẩm-Tự đen tuyền nhuộm bằng trái mặc nưa, một loại hàng thông dụng khắp từ miền Lục Tỉnh đến Sài Gòn và cả miền Trung. Dòng sông Cửu Long nước chảy xiết, rộng thênh thang. Xa xa bạn sẽ nhìn thấy những tàu buôn ngoại quốc đang buông neo sừng sững ngoài khơi như những cù lao, cồn cát. Vì là con đường giao thương qua lại quốc tế, nên Tân Châu như một thương cảng vùng nội địa của An Giang khi tàu buôn dừng lại. Do đó có những mặt hàng ngoại quốc ở Tân Châu tràn ngập mà các nơi khác không có càng thu hút nhiều người buôn bán từ các nơi khác đổ xô về làm cho chợ Tân Châu lúc nào cũng nhộn nhịp. Nhưng "tang điền biến vi thương hải" vì dòng nước chảy xiết, cả con đường Bạch Đằng với khu chợ náo nhiệt ngày nào đã bị chìm theo dòng nước cuốn trôi mất hút từ lâu rồi. Giờ chỉ còn một khu hoang vắng ngậm ngùi, những căn phố, những viên đá xanh lót đường ngày nào thăm thẳm chìm vào lòng sông
vô định qua từng mùa nước dâng, nước cạn... Khu chợ Tân Châu mới thì dời về sân banh còn buồn so như chưa kịp lay hồn tỉnh dậy... Rồi vàm kinh Vĩnh An Hà ngày xưa sâu là thế mà ngày nay vàm kinh cũ cũng đâu rồi một thuở đầy tràn những mùa nước kinh xưa?
Vàm kinh Vĩnh An Hà (Tân Châu- An Giang) những ngày chưa bị lấp.
Chợt nhớ mấy câu thơ của cụ Tú Xương:
"Đêm nghe tiếng ếch bên tay,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò !"
Ghe cui trên sông Tiền Giang (Tân Châu-An Giang) mùa nước tháng 9 âm lịch.
Về Tân Châu bạn sẽ gặp những bè cá trên sông, những con cá he nghệ vàng nghín, cá ba sa đầy mỡ. Xuống Long Sơn, trên con đường đi về Hòa Hảo, bạn sẽ vui với mùa nhãn chín thơm đầy vườn bên tiếng chim gọi nhau líu lo xào xạc, nhớ câu thơ của Tế Hanh trong bài thơ Vườn Xưa đầy tình tự:
"Hai ta như sen mùa Hạ, cúc mùa Thu,
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
Em theo chim em đi về tháng tám,
Anh theo chim cùng với tháng ba qua ."
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
Em theo chim em đi về tháng tám,
Anh theo chim cùng với tháng ba qua ."
Nhưng có lẽ cũng xin mời bạn đọc bài thơ của nhà thi sĩ vùng Long Sơn (Tân Châu), thi sĩ Nguyễn Hải Thệ còn có bút danh Ngy Do Thái, viết về bến nước Tân Châu:
Sáng ra hỏi thăm dòng sông Trước
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em
Và bài ngợi ca Châu Đốc:
Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em
Và bài ngợi ca Châu Đốc:
Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.
(Châu Đốc Quý Sửu 10/1973) (8)
Tân Châu còn là rừng mía chạy mút tầm mắt, những vạt mía thơm diệu, mía tây, mía huê kỳ, mía cọ cho nhiều đường ngọt lịm...
Trước khi bạn trở lại Sài Gòn hoặc về miền Cần Thơ, Cà Mau, xin mời bạn trở lại thăm hai vùng thân quen một thời của An Giang ngày xưa, giờ đã thuộc về hai tỉnh khác. Đó là Thốt Nốt thuộc Cần Thơ và Lấp Vò thuộc Cao Lãnh (Đồng Tháp). Giống như hai đứa con gái mẹ cha phải gả đi xa, cư dân Lấp Vò và Thốt Nốt luôn nhớ về An Giang không muốn rời căn nhà thân yêu cũ. Cực chẳng đã, phải dính líu đến giấy tờ hành chánh, nhưng kỳ dư mọi giao dịch, mua bán, thăm viếng họ đều gần gũi với An Giang hơn nhiều và lúc nào cũng tha thiết. Thốt Nốt cũng giàu có với lúa, với vườn và tháng mưa, lúa hột phơi đầy trên con lộ số 9 về hướng Cần Thơ mà mỗi lần xe chạy qua nghe rào rào dưới lườn xe vùn vụt. Còn Lấp Vò thì có nhiều trăn trở, đau buốt riêng của nó so với các nơi khác ở quanh vùng này. Bạn có tưởng tượng trong nhà lồng chợ Lấp Vò, thời thuộc Pháp, nhiều người bị Tây bắt chặt đầu, xác thả trôi sông và lấy đầu treo đầy cây tre trong nhà lồng chợ . Ngày xưa, nghe ông già bà cả kể, nơi chợ quận này có thằng Tây ác dữ lắm, biết bao gia đình là nạn nhân của nó, bị chặt đầu mà kinh hồn.
Ngã ba vàm Tân Bình và Xáng Lớn (Lấp Vò, Sa Đéc)
Nếu bạn qua sông bằng con đò chèo nơi bến đò Chợ Cũ để về Cái Tàu hoặc bạn bắt đầu rẽ tay mặt nơi có ngôi nhà xưa của anh Sáu Louis chuyên chụp hình rất đẹp nằm cạnh bến đò vào những năm 1950-1960 để về làng Tân Bình, Bồ Hút, Gia Vàm, Thủ Ô, lúc bấy giờ nơi bến sông này có ông Tú Thường mưa nắng bao mùa chèo đò đưa rước khách sang sông và bạn bồi hồi nhớ lại câu ca vọng cổ ngày nào và nhớ về một kiếp người lăn lóc cùng sông nước qua bao mùa mưa nắng:
“Còn nước mơ màng mây vẫn vơ
Thì còn ông lão với con đò
Có tiền mua lấy vài chai rượu
Nhắp rượu xong rồi lão nói thơ
Thơ Vân Tiên
Linh đinh trời rộng sông dài
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi
Nói lối:
Còn nước còn non thì nơi bến cũ vẫn còn trơ một ông lão …
1. … đưa đò. Sông nước miền quê như say theo tiếng hát câu hò. Trên con thuyền cũ kỹ ai muốn sang bến sông này lão đưa rước giùm cho, tiền bạc trả công chẳng nệ ít hay nhiều, lão chỉ cần ngày hai bữa mà thôi, bởi lão đây yêu quý con đò như thiên hạ họ yêu một người tình lý tưởng …”(9)
Và rồi bạn chợt nghe một điệu hò quen thuộc của ông lão chèo đò mà như tiếng vọng từ trái tim mình:
Hò ơ…
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .”(10)
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .”(10)
Tiếp tục, xin được mời bạn đi theo con đường lộ đá cũ lồi lõm này, bạn sẽ về Cái Tàu Thượng, Tòng Sơn nơi sanh quán của Đức Phật Thầy Tây An. Ngôi chùa Tòng Sơn bên dòng sông Cửu Long, cách Cái Tàu Thượng vài ba cây số về hướng Đất Sét Nhỏ, là một ngôi cổ tự mà nhiều thập phương bá tánh về đây hành hương, cầu nguyện Phật Thầy . Nhưng có lẽ bạn sẽ qua rạch Xẽo Môn, nơi ngày xưa trồng khoai môn nổi tiếng vùng này, nơi mà Phật Thầy trị bịnh, cứu nhơn độ thế làm cho nhiều người khỏi chết vì bịnh dịch vào những năm đồ khổ, dịch bệnh. Dọc theo con hương lộ đá từ Mương Kinh về Cái Tàu Thượng những vườn trầu vàng, lá trầu non mượt, rải rác khắp một vùng làng quê lao xao theo cơn gió hiu hiu. Bạn sẽ gặp những cô thôn nữ hái trầu đem bán những phiên chợ quận với đôi má hây hây, tình tứ mà trầm trồ và buộc lòng bạn nhớ lại câu ca dao quen miệng mà giật mình:
"Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ, phải thương cho đồng."
An Giang quá rộng, nhiều nét đặc thù, nhiều con đường còn xa khuất mà tôi vì tài hèn sức mọn không làm sao ghi lại đầy đủ, trọn vẹn hết được. Tôi chỉ là người mê nét đẹp thiên nhiên và con người của An Giang, tôi muốn xin được chia sẻ cùng bạn những gì tôi đã cảm nhận được qua năm sáu mươi năm lớn lên từ vùng đất An Giang ấy. Suốt hai mươi năm chiến tranh, An Giang so với nhiều vùng khác là một vùng yên bình; có người còn gọi An Giang là đất Phật, là Thánh địa; nhưng với riêng tôi, dù hôm nay An Giang có nhiều thay đổi, chẳng hạn như dòng sông Cửu Long bị ngăn dòng bởi các đập thuỷ điện nơi các nước thượng nguồn nên nước sông càng ngày càng cạn hơn, từ đó kéo theo cá tôm khan hiếm hơn, đồng lúa đất đai ít khi được phù sa bồi thêm sau mỗi mùa lúa thần nông ngắn ngày kết thúc, thì trong lòng tôi, hình ảnh một An Giang những ngày tháng cũ cách nay năm sáu mươi năm quả thật là một vùng cổ tích tuyệt diệu ở phương Nam này.
Có lẽ An Giang là xứ sở của cổ tích, của huyền thoại thật sự của vùng đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, mà bạn khó bắt gặp bất cứ nơi nào khác có những nét đặc thù tương tự vào những ngày tháng cũ. Nhờ hội đủ ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhơn hòa, An Giang có một thời đã mang tặng cho bạn cái nét đẹp của những cánh đồng lúa mùa bao la bát ngát với những biển lúa chín vàng đồng, những bến nước hữu tình, những dòng sông đầy cá tôm, những vườn cây ăn trái ngào ngạt hoa thơm trái chín và một tấm lòng hiếu khách, hiền hòa , chơn chất của cư dân dọc hai bên bờ dòng An Giang mát mẻ, ngọt ngào, quả từ rất lâu, từ những năm tháng cách nay hơn năm sáu mươi năm, An Giang đã mang đến cho bạn một món quà rất đẹp và nhiều ý nghĩa rồi vậy !
Ngày 19-8-1998.
(Trích trong "Bến Bờ Còn Lại" ấn hành năm 2000)
Ngày 25-6-2011, đọc lại và bổ túc nhiều chi tiết, hình ảnh quan trọng.
----------------------------
Phụ chú :
1/Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 170.
2/ Hồi Ký (tập 2) của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, trang 21.
3/ //Bảy Ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê, loại sách Học Làm Người, 1954, trang 99.
4/ Việt Sử Tân Biên (tập 5) của Phạm Văn Sơn in lần đầu tại Thư Lâm ấn quán, năm 1962, trang 208.
5/Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 86. Ngoài ra, theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm, qua tài liệu của ông Đặng Văn Ty thong phán hồi hưu ở Châu Đốc thì ông Phan Văn Vàng, tục gọi “xếp Vàng”, người làng Đa Phước, quận Châu phú, nay là xã này thuộc An Phú (Châu Đốc), thường năm ông lên miệt sông lớn bên Miên bắt sấu về bán, đồng thời ông thấy người Miên có trồng giống lúa nổi rất trúng, nên mua về trồng thử và kết quả trúng mùa; do vậy dân vùng Tân Châu Châu Đốc qua Miên mua giống về trồng. Nhưng theo Địa Phương Chí Tỉnh An Giang, trang 27, thấy ghi ông Phó Tổng ở Đốc Vàng Hạ (Long Xuyên) là người tìm ra giống lúa sạ trước nhứt”(Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh, 1964, nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003, trang 54)
6/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 97.
7/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 93.
8/ Trang nhà TSCĐ.com, mục thơ, tác giả Nguyễn Hải Thệ-Ngy Do Thái,(trích tập thơ Ảo Ảnh)
9& 10/ Bái vọng cổ “Ông Lão Chèo Đò” của soạn giả Viễn Châu, Tuyển Tập Vọng Cổ, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 88.
Sunday, August 14, 2011
Đừng !
Đừng !
- Ðừng nên thờ ơ với những gì đã quá quen thuộc với bạn. Hãy giữ chắc lấy chúng như những gì quan trọng nhất, vì sẽ có lúc bạn cảm thấy tiếc nuối khi những điều thân thuộc ấy mất đi.
- Ðừng hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.
- Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ có bạn mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình.
- Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc đời.
- Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm.
- Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.
- Đừng để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai. bằng cách sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.
- Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.
- Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó.
- Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ " giàu có" trong cuộc sống của mình.
- Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.
- Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.
- Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
- Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
- Đừng từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho.
- Đừng ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo.
- Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm.
- Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghĩ không thể nào tìm ra nó.
- Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cánh tự do.
- Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu.
- Đừng quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng.
- Đừng ngại học hỏi. Kiến thức là vô bờ, là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng.
- Đừng sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn. Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại.
- Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng từng bước khám phá...
- Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ, vì biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.
- Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống.
- Đừng quên tìm cho mình một người bạn thực sự, bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời.
Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần. Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.
(St)
Thành công
Thành công
by Kỷ Niệm
# THÀNH CÔNG VỀ CÁI GÌ ?
Khi được hỏi về sự thành công thì ta thường nghĩ ngay đến nghề nghiệp của mình. Đây cũng là lẽ đương nhiên, vì khoản thu nhập hay vị trí trong xã hội có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của hầu hết mọi người. Nhất là tại thời điểm này, kinh tế toàn cầu đang suy thoái trầm trọng, nhiều công ty phải đóng cửa, nhiều tập đoàn bị phá sản và vô số người bị mất việc, cho nên nó đã trở thành thứ nhạy cảm hàng đầu khi người ta ngồi lại với nhau mà không ai dám nhắc tới hai chữ thành công.
Vậy nên ít khi nào ta hỏi ngược lại người kia hay tự hỏi chính mình: thành công là thành công về cái gì? Thành công phải có đối tượng của nó, cụ thể là lĩnh vực nào, chứ không phải cái gì cũng thành công thì mới được gọi là thành công. Như ta đang sở hữu những thứ tiện nghi sang trọng đắt tiền, hay vị trí xã hội mà rất nhiều người mơ tưởng, thì không lý do gì ta không tự nhận mình là kẻ thành công. Nhưng khi có được những thứ đó trong tay thì hạnh phúc gia đình lại đổ vỡ, người thân không muốn nhìn mặt ta nữa, hoặc ta không thể tin tưởng và cảm thông những người bạn xung quanh…thì ta có được gọi kẻ thành công nữa không? Có đấy, nhưng chỉ thành công về mặt vật chất, còn đời sống tình cảm thì thất bại nặng nề.
Còn nếu ta cho rằng tình yêu của ta là nhất, trên cõi đời này không còn thứ gì quan trọng và tuyệt vời hơn thế nữa, để rồi ta lao theo nó như con thiêu thân bất chấp mọi thứ đang xảy ra chung quanh và phía trước. Ta bỏ ra rất nhiều thời gian, tiền của, năng lực và cả những phẩm chất quý giá trong tâm hồn để nắm bắt nó. Ta không cần chăm sóc bản thân, không buồn quan tâm tới việc làm hay những mối quan hệ chung quanh để giữ gìn nó. Ta tập cho mình thói quen ganh ghét hay ăn thua đủ khi người kia không hết dạ với mình. Giả sử người kia đã thuộc về ta rồi thì ta có thật là kẻ thành công không? Có đấy, ta đã thành công về khả năng chinh phục kẻ khác, nhưng lại thất bại với chính mình.
# THÀNH CÔNG Ở BÊN NGOÀI
Ta luôn chịu ảnh hưởng bởi tâm thức cộng đồng, luôn bị cuốn theo dòng chảy mãnh liệt của cuộc sống, nên không dễ gì có được chánh kiến (right view) của riêng mình. Dù ta đọc sách thánh hiền, được người hiểu biết hướng dẫn, hay do chính ta suy nghiệm lấy thì ta cũng không đủ can đảm để bước theo hướng đi sáng đẹp mà mình đã tìm ra. Tại vì hướng ấy rất cô độc, gần như mọi người đều đổ xô theo hướng tìm kiếm quyền lợi vật chất hay thỏa mãn danh dự, chứ không còn thiết tha gì với giá trị đời sống tinh thần.
Bây giờ bước ra đường phố ta không khỏi ngẩn ngơ trước dòng người đông nghẹt, nhưng ai nấy cũng đầy vẻ căng thẳng và hối hả như đang chạy tìm một cái gì đó. Họ không biết mình đang đi tới đâu, ai vừa lướt ngang qua mình, thì làm sao có thể nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến, hay tặng nhau một nụ cười thân thiện. Ngồi cạnh nhau trên xe buýt hằng giờ nhưng không ai chịu bắt chuyện, vì dường như ai cũng đang rất bận rộn với những kế hoạch trong đầu. Họ gặp nhau ở công ty nhưng cũng không thể dừng lại hỏi người kia có khỏe không và chờ đợi câu trả lời, vì họ có cảm tưởng như vậy là mất một vài giây phút quý giá trong đời, thay vì tranh thủ lao đầu vào các tờ nhật báo, lên internet để tìm kiếm những thông tin mà họ cho là hữu ích cho sự thành công.
Nhiều người lại không thích người khác hỏi thăm mình. Họ luôn nghĩ sự hiện diện của người kia là không cần thiết hay sẽ làm cho mình mất tự do. Tại vì họ không muốn công khai với người khác về sự thất bại của mình trong công việc làm ăn, và họ có thể nghĩ người kia đang tìm cách để cạnh tranh hay hạ gục mình giữa thương trường. Vì vậy mà bây giờ thương trường đã trở thành chiến trường khốc liệt, trong đó, ai không có đủ sự khôn ngoan và chiêu thức tinh xảo thì phải chấp nhận trở thành kẻ chiến bại. Để rồi con người ngày càng tự biến mình thành cỗ máy vô tri và mất dần tình người với nhau. Đến lúc không chịu đựng nổi cảnh sống “máy móc” và hời hợt như vậy nữa, thì họ chui mình vào vỏ bọc của sự cô đơn, lạnh lùng, và làm những quyết định hết sức lầm lẫn.
Sự thành công như thế vốn đã mang theo tính chất của sự hủy diệt rồi. Thà tài sản bị tiêu tán thì ta vẫn còn cơ hội tìm lại được, hay ta vẫn còn nhiều điều ý nghĩa để sống, nhưng một khi những phẩm chất linh thiêng trong tâm hồn như sự bình an, lòng thương xót, tính thật thà, đức khiêm cung… bị băng hoại thì có khi cả đời ta cũng không sao thiết lập lại nổi. Một kẻ sống không có chất liệu đạo đức là một kẻ thất bại thảm hại. Sống mà không thể yêu thương hay không được yêu thương thì có khác gì những loài ma đói!
Cho nên ta đừng quá hốt hoảng hay buồn chán khi ta đang là kẻ chiến bại trong chiến trường kinh tế. Nếu ta vẫn còn khả năng ngồi yên để uống một chén trà nóng với bạn bè, vẫn còn kiên nhẫn để lắng nghe người thương chia sẻ, vẫn còn biết rung động trước những cảnh đời trái ngang, vẫn còn sốt sắng đứng ra bảo bọc kẻ khác thì ta hãy ăn mừng đi. Vì đối với gia đình, với xã hội, với đất trời này ta là kẻ đã sống trọn kiếp con người.
Vậy nên có thể nói, thành công với chính mình thì ta sẽ dễ dàng thành công với tất cả, nếu thất bại với chính mình thì ta không bao giờ giữ được những thành công khác. Cụ Nguyễn Du cũng đã từng nói: “Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm”, ta đừng bao giờ quên nguyên tắc điều hợp cuộc sống quan trọng này. Giờ phút nào ta vẫn còn chạy vòng ngoài để tìm kiếm sự công nhận, hay tích góp thêm tiền bạc mà bỏ bê những người thân yêu trong gia đình hoặc chính tâm hồn mình, thì giờ phút đó ta vẫn chưa cắm rễ vào sự sống, chưa thực sự biết sống, hay chưa tìm ra lẽ sống.
# THÀNH CÔNG VỚI CHÍNH MÌNH
Sự thống trị của cơ sở vật chất đã làm cho bao lớp người không tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống này là gì. Nhiều bạn trẻ khi đã lấy được chứng chỉ Đại học rồi mà cũng không dám bước vào đời, họ nghĩ phải tiếp tục đào xới kiến thức trong học đường vài năm nữa để lấy thêm chứng chỉ Cao học hoặc ít nhất là phải có thêm một chứng chỉ nào khác nữa thì mới đủ tư cách để bước vào ngưỡng cửa thành công. Trong đầu hầu hết các bạn trẻ đều luôn nghĩ đến việc kiếm thật nhiều tiền, phải chứng tỏ cho mọi người thấy được tài năng của mình trong khi còn sung sức thì mới hài lòng với chính mình. Nhiều bạn có cơ hội tiến thân là nắm bắt ngay, những người chưa đủ thực lực cũng chen chân và tìm mọi phương cách để gây sự chú ý của người khác, đánh bóng tên tuổi mình. Với họ, được nhiều người biết tới, dù đó là sự tai tiếng (scandal) cũng đã là một sự thành công vẻ vang rồi. Thật đáng sợ!
Làm sao để nói cho các bạn trẻ ấy biết rằng cái gì cũng có cái giá của nó, giây phút đón nhận hậu quả của những hành động sai lầm rất khủng khiếp. Làm sao để phân tích cho họ thấy được bản chất thật của cuộc sống là gì, làm sao để giúp họ xác định lại đâu mới là mục đích chính của đời sống? Hay là “đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Nguyễn Du), chắc là đôi lúc ta cũng nên để cho các bạn ấy phải chịu vấp ngã vài lần thật đau thì may ra mới bừng tỉnh mà định vị lại cuộc đời mình, chứ không dễ gì ngăn cản nổi sự háo thắng và liều lĩnh của họ một khi đã lún sâu vào danh vọng.
Các nhà phân tâm học tây phương thường hay nhắc nhở rằng nhà trường chỉ cung cấp cho ta 25% kiến thức, còn cuộc sống trải nghiệm mới cho ta 75% kiến thức ta cần. Sự lầm lẫn về phương tiện sống và mục đích sống đã khiến cho rất nhiều thế hệ học sinh ra trường khủng hoảng về sự lựa chọn hướng đi cho cuộc đời mình. Họ không dám bước vào đời vì họ sợ mình thua sút người khác, mình sẽ không phải là sự lựa chọn tối ưu của những công ty danh tiếng, mình sẽ không dễ dàng chinh phục được những đối tượng có quyền lực. Có bao nhiêu bạn trẻ đã dành trọn nguyện vọng của mình cho việc tìm kiếm giá trị hạnh phúc chân thật, phương cách nào để làm chủ được bản thân, hay làm sao để bảo vệ môi sinh, cứu giúp trẻ em đói, hoặc giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc?
Nhưng câu hỏi đó vẫn luôn bị xem là xa vời, phi thực tế. Tiền bạc hay danh vọng mới đích thực là tâm nguyện hàng đầu của giới trẻ bây giờ. Nhưng các bạn ơi, thành công ấy sẽ đưa ta đi về đâu? Đành rằng đời sống ai cũng cần những tiện nghi đó, nhưng nếu ta không thể thành công trong những lĩnh vực sâu sắc khác của đời sống thì ta sẽ thấy đời sống này rất vô vị và trống rỗng. Tại vì những cảm giác sung sướng của sự thành công kia sẽ mau chóng đi qua, nó sẽ để lại cho ta một nỗi cô đơn mà không có ai chia sẻ được. Đó cũng là lý do tại sao kẻ có nhiều quyền lực chính là kẻ cô đơn nhất.
# TA HÃY TRỞ VỀ TÌM LẠI SỰ THÀNH CÔNG NƠI CHÍNH MÌNH.
Hãy học cách lắng đọng tâm thức, không để đầu óc suy nghĩ vẩn vơ; hãy cố gắng luyện tập làm chủ một cơn giận, nhận diện và chuyển hóa những năng lượng độc hại như lòng tham, tính ích kỷ, thói quen so đo tính toán với mọi người. Hãy tìm cách khơi dậy những phẩm chất quý giá trong tâm hồn và những năng lực tiềm ẩn chưa có điều kiện phát sinh. Ta hãy tập cho thành công những bước chân thong thả, những buổi ăn cơm đầm ấm với gia đình, hay những khi lắng nghe khó khăn của người khác. Sự thật cuộc đời này không có cái thành công lớn hay nhỏ, mà chỉ có cái đem tới cảm xúc nhất thời hay giá trị hạnh phúc chân thật mà thôi.
Núi muôn đời vững chãi
Mặc tuyết phủ sương giăng
Ta đã tìm thế đứng
Hay vẫn còn lăng xăng?
ST
Subscribe to:
Posts (Atom)