Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Thursday, July 7, 2011

Sống ở trên đời cần phải có một tấm lòng

Sống ở trên đời cần phải có một tấm lòng

Cuộc sống vốn không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà chúng ta có thể tận hưởng từng bước khám phá…Cuộc sống sẽ có muôn màu, muôn vẻ, sẽ đẹp đẽ đáng yêu đối với những ai có một tấm lòng. Tấm lòng mà tôi muốn nói ở đây chính là tấm lòng vị tha, tấm lòng hiểu biết và tấm lòng thương yêu. Nếu mỗi một người trong chúng ta đều có một tấm lòng như vậy thì gia đình sẽ không có bất hòa, cộng đồng sẽ không có chia rẽ, đất nước sẽ không có giai cấp và thế giới không có chiến tranh. Chúa tạo dựng con người với đầy đủ những bản năng sân si, hỉ, nộ, ái ố, Chúa cho chúng ta cái quyền tự do tuyệt đối để lựa chọn và phán quyết cuộc sống của chính mình để rồi sau khi lựa chọn những việc chúng ta làm, chúng ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm cái hậu quả mà chúng ta tạo. Chúng ta đã biết và nhìn thấy rất rõ rằng nếu chúng ta té từ trên nóc nhà xuống thì chắc chắn là sẽ bị thương tích, vậy nên chúng ta luôn tránh né, luôn cẩn thận để không bị té thì nếu một khi chúng ta làm điều không phải với lương tâm như vu khống, bôi nho., gây chia rẽ, dùng chức cao quyền trọng để lợi dụng lòng thật thà, tín ngưỡng của người khác thì cái hậu quả rõ ràng sẽ là sự trở trăn, cắn rứt của lương tâm. Không phải ai trong chúng ta cũng hiểu được điều này rõ ràng khi cái lòng sân si quá cao độ.
Người ta thường có câu ” Ðừng để đến khi làm người khác buồn rồi mới xin lỗi.” hay ” Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.” Để nhận định rõ được điều này mà tránh thì không phải là chuyện dễ dàng vì ngay chính bản thân tôi, khi ngồi đây viết ra được những lời hay, ý đẹp thì tôi cũng đã từng phạm lỗi, từng làm cho bao nhiêu người đau lòng, từng gây chia rẽ tình thân giữa bạn bè, người thân thì nói chi một giáo xứ, một cộng đồng có bao nhiêu người làm việc chung thì khó tránh khỏi sự đâm chọt, thóc mách, bơi móc để gây chia rẽ. Làm sao tránh được khi con người mang cái tôi trong mình cao hơn thiên hạ. Đã có lần, tôi nhớ, ngày ấy, tôi chỉ chập chững tham gia ca đoàn và trong một buổi họp, tôi thấy cả bao nhiêu người có quyền cao, chức trọng, có thế lực, vây cánh bè hội đồng tấn công, kết tội một người. Tôi chẳng hiểu tội của người đàn ông ấy nặng như thế nào nhưng cứ nhìn cái cách bốn năm người chọi một thì tôi đã bất bình, đã thấy không có sự công bằng trong đó, xét về lòng vị tha thì tuyệt nhiên những người đang lên cơn nóng giận đó không có đã đành, xét về lòng yêu thương như Chúa dạy thì nếu họ có, họ đã không uy hiếp một người thế cô, còn xét về tấm lòng hiểu biết thì cái cách họ đem một người ra đấu tố, tẩy chay trước bàn dân thiên hạ thì họ đã không phải là người có hiểu biết trong tinh thần xây dựng. Tôi còn nghe một người trong họ đứng ra tuyên bố đặt điều kiện với người bề trên và ban tổ chức rằng “nếu có ca đoàn của người bị đấu tố tham gia chương trình ca nhạc tổng hợp thì họ sẽ không tham gia”. Rõ ràng, câu nói đó là câu nói coi thường ban tổ chức, coi thường bậc bề trên, đặt cái tôi mình trên cao và gây mất đoàn kết, gây chia rẽ cho cộng đồng. Kém hiểu biết hơn nữa là bậc bề trên và ban tổ chức không lên tiếng can thiệp, có nghĩa là họ chấp nhận bù nhìn, họ chấp nhận để nhân vật kia đạo diễn và lèo lái.
Một công ty có phát triển mạnh mẽ hay không phần lớn là do người điều hành. Người điều hành mà giỏi, mà công chính, vô tư, có đủ ba tấm lòng, lòng vị tha, lòng yêu thương và sự hiểu biết thì mới có thể dẫn dắt lèo lái đưa công ty đi lên con đường thành công. Một đất nước mà có ông president điều hành giỏi thì kinh tế mới mong phát triển chớ không phung phí tiền bạc như ông Obama đưa phái đoàn hai ngàn người đi công tác gì đó, không biết lợi lộc đưa về bao nhiêu cho đất nước mà chi phi trước mắt là hai trăm triệu đô la một ngày trong khi kinh tế nước Mỹ đang trên đà khủng hoảng trầm trọng.
Một cộng đoàn hay giáo xứ cũng thế, nếu như chúng ta có được người lãnh đạo chí công, vô tư thì giáo dân sẽ đoàn kết cùng người lãnh đạo đưa giáo xứ đi lên theo đà phát triển lành mạnh, gương mẫu và đạo đức. Tiếc rằng sự đời không phải luôn luôn có những sắc màu dịu dàng đẹp đẽ như vậy. Những màu đen xám luôn luôn tìm cách chơi trội nhảy vào để phá đi những sắc màu sáng sủa tươi vui. Người tốt sẽ cứ lần lượt ra đi bởi những kẻ nịnh nọt luôn đâm thọt, bơi móc và tâng bốc. Họ tâng bốc ai ? đương nhiên là tâng bốc người có chức quyền, lời ngọt, lời nịnh nọt thì bao giờ cũng dễ nghe hơn thành ra ru ngủ bậc bề trên là điều họ sẽ làm trước tiên, sau khi chiếm được vị trí cố định, họ bắt đầu ra quân, bề hội đồng gây chia rẽ, vu không để đuổi người tốt ra ngoài. Những kiểu người như thế này là nguy hiểm hơn cả. Thông thường người làm vua thì lại cứ thích nghe lời ngọt của gian thần nên cuối cùng các trung thần cứ lần lượt ra đi…Tôi cũng nhớ đến câu chuyện đâm thọt, bề hội đồng tay trong, tay ngoài của cộng đồng để rồi một cặp vợ chồng đã làm thiện nguyện cho giáo xứ hơn mười năm đã bị ép buộc dẫn đến việc phải từ chức. Chuyện có gì đâu ngoài ghen ghét đố kị nhau ? khi phần lợi thu về mình bị phản đối thì đương nhiên là đâm thot, là bề hội đồng để đuổi kẻ ngăn cản bước đường thu huê lợi của riêng mình.
Cứ mỗi lần tôi nhìn thấy những người năng nổ làm việc thiện nguyện từ chức, xin nghỉ thì lòng tôi buồn, xót xa. Ngày xưa, khi tôi mới dọn về nơi này, tôi nhìn thấy một cộng đồng phồn thịnh còn bây giờ, các ghế trống trong nhà thờ càng ngày càng nhiều hơn, những người muôn niên cũ đã chẳng còn ở lại. Liệu những người chính trực mới bước vô làm không biết gì sẽ tồn tại được bao lâu ? Còn những kẻ nịnh nọt chót lưỡi đầu môi rồi cũng có ngày được đem ra trước vành móng ngựa bởi chân lí vẫn luôn là “giấy rách thì không gói được lửa”.
Một cây thì sẽ chẳng làm nên non nước gì, một ông vua trị vì mà không có các bá quan văn võ hưởng ứng thì liệu ông vua ấy có điều khiển được bàn dân thiên hạ hay không ? một ông cha mà không có giáo dân thì thử hỏi ông cha ấy có xây nổi cái nhà thờ ?
Khi tôi đọc những bài viết trút những uất ức, giận dữ cũng như chán nản của mọi người, tôi thầm nghĩ đó không phải là cái cách giải quyết, cứu vãn tình thế hay xây dựng để mong một sự đổi thay. Giữa người và người với nhau, thường do sự kiên trì về cố chấp bởi những lỗi lầm giữa đôi bên, đã tạo nên những thương tổn vĩnh viễn cho nhau. Nếu mọi người trong chúng ta đều có thể tự mình làm lại, bắt đầu có thái độ khoan dung đối với mọi người, chúng ta nhất định sẽ nhận được những kết quả tốt mà chúng ta không hề nghĩ tới… Giúp mở cánh cửa sổ cho người ta, cũng là để cho chính mình nhìn thấy được một không gian hoàn chỉnh hơn.
Việc hiểu lầm, con người ta thường vì không hiểu nhau, không có lý trí, không chịu nhẫn nại, khiếm khuyết về suy nghĩ, không chịu tìm hiểu đối phương từ nhiều phương diện, để phản tỉnh chính mình, lại vì não trạng bị quá xung động, trong tình huống vô ý thức mà phát sinh. Sự ngộ nhận ở điểm khởi đầu là cứ nghĩ đến cái sai cái quấy ngàn lần vạn lần của đối phương; Vì vậy, đã làm cho sự ngộ nhận càng lúc càng thêm sâu đậm, đưa đến việc không thể hóa giải được. Chúng ta không thể đòi hỏi được yêu thương rồi mới yêu thương lại, chúng ta không thể ngồi đó chờ công việc vừa ý đến mới bắt tay vào làm, chúng ta không thể không dám mạo hiểm để làm những điều tốt vì nếu như sự mạo hiểm thất bại thì Ít nhất chúng ta cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm. Tại sao chúng ta không cùng nhau ngồi lại kiểm điểm và xây dựng trực diện, trực tiếp trên tinh thần yêu thương, hiểu biết và vị tha ? Tại sao chúng ta không làm điều gì đó thực tế hơn thay vì chỉ viết ra những lời bêu riếu, ta thán, thắc mắc, diễu cợt, châm biếm, đố kị ? Cái điều quý nhất ở xứ người mà chúng ta đã vượt đại dương ra đi tìm kiếm đó chính là sự tự do, tự do trong ngôn luận, tự do trong xây dựng, phê phán, đấu tranh. Tại sao chúng ta cứ theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, mà lại không theo đuổi những mục tiêu tốt cho mình, cho cộng đồng mình ?
Sống ở trên đời cần phải có một tấm lòng đó là lòng YÊU THƯƠNG, lòng HIỂU BIẾT, và LÒNG VỊ THA. Mong mỏi mỗi người chúng nên ngồi lại với nhau để soi gương nhìn lại.

Thu Le

9 việc đừng bao giờ làm

9 việc đừng bao giờ làm




“Không bao giờ” là một từ vừa mang nghĩa tiêu cực lẫn tích cực. Có một số việc bạn đừng bao giờ thử đến, nhưng... 9 việc dưới đây thì khác:
 
1. Đừng bao giờ ngừng việc tìm thú vui, niềm vui trong cuộc sống: Niềm vui ở đây không cần thiết quá phức tạp hay cầu kỳ. Có được niềm vui không cần thiết bạn phải tiêu tiền và cũng không cần tốn nhiều thời gian cho nó. Niềm vui có được từ những điều nhỏ nhặt nhất và ở xung quanh chúng ta. Niềm vui sẽ giúp bạn tươi tắn hơn, làm việc hiệu quả hơn.
 
2. Đừng bao giờ đối xử với bạn tốt hơn với gia đình: Đa số chúng ta cho rằng: giả dụ như mình có điều gì đó xấu, khó nghe hay cư xử kém với những thành viên trong gia đình thì vẫn không sao, do họ sẽ dễ dàng tha thứ và bỏ qua vì họ có sẵn tình thương yêu, ràng buộc và máu mủ. Điều này là không chấp nhận được, vì tại sao bạn lại cố khéo léo dùng lời lẽ tế nhị, văn minh với bạn bè, khách hàng đồng nghiệp... lại thô lỗ với người trong gia đình? Bất kỳ ai cũng bị tổn thương tình cảm như nhau và hãy nhớ rằng bạn sống đời với gia đình mình nhiều hơn với bạn bè.
 
3. Đừng bao giờ tỏ ra mình là một "người biết tất cả": Thật khó chịu và phiền hà khi giao tiếp và làm việc với người lúc nào cũng cho là mình đúng hay biết tất cả. Không thể nào làm việc được với một người họ nghĩ mình luôn luôn đúng và vì thế dù bạn giỏi giang và tường tận sự việc tới đâu cũng phải biết lắng nghe từ người khác và trao đổi hai chiều.
 
4. Đừng bao giờ bỏ qua cơ hội nói một từ dịu dàng, tử tế: Bạn cảm thấy thế nào khi nhận được những lời nói, từ ngữ dịu dàng dễ nghe và nghĩ rằng người khác cũng mong điều đó ở bạn. Hãy bắt đầu bằng những từ dịu dàng nhất như "cảm ơn, xin lỗi"...
 
5. Đừng bao giờ ngừng học hỏi: Tiếp tục học hỏi, trau dồi tìm kiếm những nguồn thông tin mới, kỹ năng hiện đại, là điều quan trọng. Bạn sẽ cảm thấy mình giá trị hơn, có ích lợi hơn trong cuộc sống. Học hỏi không có nghĩa là bạn cần đăng ký một khóa học mà là học hỏi, góp nhặt những kiến thức mới từ khắp mọi nơi, có thể từ sách báo, các nguồn thông tin, bạn bè, các buổi thảo luận, các cuộc hội thảo...
 
6. Đừng bao giờ quên chăm sóc cho chính mình: "Đừng bao giờ quên đeo mặt nạ khí ôxy cho bạn trước tiên" là câu nhắc nhở thường xuyên trên các chuyến bay hãy giúp chính mình được an toàn. Vừa nghe qua có thể thật ích kỷ, nhưng bạn hãy nghĩ xem làm thế nào mà bạn có thể làm một người con tốt, một người luôn chăm sóc chu đáo cho người thân nếu bạn không có đủ sức khỏe lo cho chính mình.
 
7. Đừng bao giờ than phiền về "người ấy" của bạn trước mặt bố/mẹ họ: Đây là một điều cấm kỵ cho dù bạn rất thân tình với bố mẹ của "người ấy". Sẽ xảy ra rất nhiều chuyện nhiêu khê trong vấn đề này. Ngược lại, nếu có thể, hãy khen ngợi chàng/nàng trước mặt họ vì đó cũng là một lời khen gián tiếp đến những đấng sinh thành đã có công ban tặng bạn một người bạn đời lý tưởng.Và lời khen có "hơi quá" đôi khi cũng sẽ khiến chàng/nàng nghĩ lại về mình. - Nếu như bạn có chút bực bội về "người ấy" thì hãy tâm sự cùng một người bạn thân, bạn sẽ nhận được một số lời khuyên tốt cũng như sự thông cảm và chia sẻ.
 
8. Đừng bao giờ ngồi yên khi cơ hội đến với bạn: Theo ông Andy Andrews, tác giả quyển sách Seven Decisions That Determine Personal Succen cho biết: "Khi chúng ta lâm vào hoàn cảnh hay thời kỳ khó khăn, chúng ta có khuynh hướng co cụm lại mà không biết rằng hơn lúc nào hết bạn cần sự động viên, khuyến khích, những cơ hội mới hay có những ý kiến giúp đỡ... Những thứ đó có từ chính những người xung quanh bạn". - Hãy bắt đầu từ những kế hoạch nhỏ nhất, bạn muốn đạt được cái gì, làm thế nào bạn đạt được. Hãy tham vấn những người có thể hỗ trợ bạn được thành công và hãy biết nắm bắt cơ hội kịp thời.
 
9. Đừng bao giờ lơ là hay cho qua những linh cảm: Đó là những cảm giác thật đặc biệt từ bên trong... nó không tên, không xác định được và những linh cảm này là công cụ mạnh mẽ nhất hỗ trợ việc đưa ra những quyết định lớn. Đó là những tín hiệu ngắn ngủi, nhắn gửi bạn một điều gì đó, vì vậy bạn hãy tự hỏi mình linh cảm đó nhắn gửi bạn những ý gì trước khi có một quyết định quan trọng.
 
ST

Có khi nào bạn tự hỏi

Có khi nào bạn tự hỏi
Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình không có một người bạn nào cả?” trong khi bạn lại không chịu mở rộng trái tim để bạn bè có thể đến với bạn.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình lại luôn luôn nếm mùi thất bại?” trong khi bạn vẫn chưa dốc hết toàn bộ sức lực trong mọi công việc để tiến tới thành công.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mọi người lại đối xử với mình tệ như vậy?” trong khi bạn vẫn chưa chắc là mình đã đối xử thật tốt với mọi người xung quanh.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình không được như mọi người?” trong khi bạn đâu hề biết rằng có hàng triệu người đang ao ước có được cuộc sống như bạn.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình không có được hạnh phúc?” trong khi bạn vẫn mải mê theo đuổi hạnh phúc ở đâu xa xôi nên không kịp nhận ra chúng đang hiện diện ngay bên cạnh, thậm chí ngay trước mắt bạn.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao cuộc sống của mình lại nhàm chán đến thế?” trong khi bạn vẫn chưa nỗ lực tìm ra mục tiêu đích thực của đời mình để theo đuổi.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình vẫn chưa tìm được một tình yêu mới?” trong khi bạn vẫn cứ mãi ngồi đó với những hoài niệm về người yêu cũ.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình chẳng nhận được gì từ cuộc sống?” trong khi bạn vẫn chưa làm được chút gì để góp phần làm đẹp cho cuộc sống của mình.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao mình lại không thể có được một tình yêu đích thực?” trong khi bạn vẫn chưa dám chắc là mình hiểu rõ khái niệm tình yêu.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Tại sao chẳng ai hiểu mình cả?” trong khi bạn luôn che giấu cảm xúc và chẳng bao giờ cho người xung quanh cơ hội để có thể lắng nghe.

Có khi nào…

...Cuộc sống không hề làm khó bạn mà chính bạn đã tự làm khó mình bằng cách đặt ra những câu hỏi đại loại như: “Tại sao lại thế này?... Tại sao lại thế kia?...”. Không ai có thể trả lời giúp bạn mà chính bạn phải tự đi tìm lời giải đáp cho mình. Hãy luôn nghĩ về người khác trước khi nghĩ đến bản thân, chắc chắn lúc đó bạn sẽ hài lòng với câu trả lời của chính mình. Và đừng quên luôn đặt câu hỏi: “Mình đã làm được gì?” trước khi tự hỏi: “Mình đã nhận được gì?” nhé! Tôi tin là bạn sẽ thành công!

 
ST

Wednesday, July 6, 2011

MÀI DAO DẠY VỢ, LUYỆN VÕ TRỊ CHỒNG

MÀI DAO DẠY VỢ, LUYỆN VÕ TRỊ CHỒNG

Tràm Cà Mau.

Lời kể của chị Thanh Mai:

Khoan, xin anh đừng tưởng tôi là bà chằn lửa, múa dao lia lịa, bắn súng ào ào như cao bồi. Nói cho bạo mà nghe chơi, đừng rởn da gà.

Chắc ít ai quên câu chuyện của anh chàng, có mẹ ở chung nhà. Mẹ và vợ thường không thuận nhau, gây bất hòa, mất hạnh phúc gia đình. Một hôm bà mẹ thấy anh mài dao mãi, hỏi mài làm chi kỹ thế, anh trả lời rằng, mài dao bén để giết vợ, cho mẹ con sống với nhau yên ổn hơn. Khi vợ về cũng hỏi, anh nói là mài dao sắc, giết mẹ để vợ chồng sống không sóng gió.

Mẹ và vợ đều sợ, nên hết dám xích mích nhau. Đó là câu chuyện xưa. Bây giờ tôi cũng luyện võ trị chồng. Xin các ông đừng sôi gan lên khi nghe đến chữ "trị chồng". Cứ từ từ, đâu còn đó.

Mẹ tôi thường nói, tướng tôi cao bồi, sau này e ế chồng, không ai dám mó vào. Mẹ còn bảo chú tôi đừng dạy võ nghệ cho tôi. Không chừng về sau, gia đình di họa, tai tiếng. Tôi được chú thương, đem tôi đến võ đường tập luyện đều đặn. Từ quyền cước, múa kiếm, đánh côn, đủ loại. Tôi ưa thích Nhu Đạo nhất, vì môn võ nầy, theo chú nói:

-“Lấy yếu chống mạnh, lấy sức người làm sức mình. Như cây trúc, mềm dẻo thì không gãy, mà cứng như cây thông thì trốc gốc trước gió”.

Sau này vào đời, tôi quên hết tất cả quyền cước võ nghệ, chỉ còn nhớ một câu trên, để áp dụng cho tất cả mọi hoàn cảnh trong cuộc sống nhiều gay go phức tạp. Có lần tôi tâm sự điều đó với chú, thì chú bảo đùa một câu rất chi kiếm hiệp rằng:

-"Con đã đạt đến tuyệt đỉnh võ học rồi đó. Người võ học tột đỉnh, chỉ còn võ ý, chứ không còn võ thế, võ công nữa".

Không đúng như mẹ tôi ngại rằng sau nầy tôi ế chồng. Tôi lại có số đào hoa. Trong võ đường, có rất nhiều võ sinh ngấm nghé, không phải vì tôi là cháu cưng của võ sư, mà vì tôi biết sử dụng cái thế yếu của mình. Trong trường học, cũng có nhiều anh kín đáo dành cảm tình cho tôi, muốn làm quen. Anh trai của các cô bạn, cũng dịu dàng bày tỏ cảm tình. Tôi chưa muốn phiêu lưu tình cảm sớm, nhưng cũng không cự tuyệt ai. Cho đến khi tôi biết nhà tôi, một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, có nghề nghiệp vững vàng, thì tôi mở mặt trận, kín đáo tấn công.

Nhà tôi, như các ông chăm học khác, khi mới ra trường, nhát gái, ít kinh nghiệm về tình, chỉ biết sách đèn. Tôi biết, có ít nhất là hai cô cùng tấn công anh một lúc. Một cô thì nhan sắc mặn mà duyên dáng. Cô khác, vừa đẹp, vừa giàu, mà gia đình cô và anh là nơi thân tình quen biết. Còn tôi thì hơi thô, vai to vì học võ, nhào lộn nhiều, dáng đi thiếu uyển chuyển, phải nói là cứng.

Cả ba đứa con gái kình địch đều quen biết nhau, và biết tình cảm của anh chưa hẳn nghiêng về phía nào. Anh có quyền tìm hiểu nhiều người một lúc để chọn người bạn đường tương lai. Trong cuộc chạy đua, tôi như ở thế hạ phong.

Vào thời đó, kiếm được một ông chồng có bằng cấp kỹ sư, bác sĩ, luật sư, không phải dễ dàng, mà là một vinh hạnh cho chính mình và cả gia đình nữa. Cái bằng cấp của anh ấy không phải là lý do chính mà tôi nhắm vào, mà vì tôi thấy anh hiền lành, có lòng và thuộc gia đình gia giáo. Ít nhất, cũng có thể bảo đảm đời sống tinh thần, đời sống vật chất cho tôi sau này.

Theo đúng tinh thần võ học, tôi tìm hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của đối tượng lẫn đối thủ. Đối tượng thì có cái lý luận và xét đoán chính xác, vì dân kỹ thuật. Các đối thủ thì có nhiều nhược điểm chung của đàn bà, tự ái, kiêu, hay giận hờn, ưa cái hào nhoáng bên ngoài. Hai cô gái nói xấu nhau và nói xấu tôi, nói trực tiếp, nói gián tiếp với anh.

Phần tôi thì chỉ nói tốt cho các cô, nói về những điểm tốt mà các cô có, tránh chê bai. Thực tình mà nói, khi khen các cô, thì trong lòng tôi cũng áy náy và thương cảm cho mình. Nhưng tinh thần nhà võ, không cho tôi làm khác. Không ngờ, như thế mà tôi được điểm tốt, vì anh đã so sánh giữa ba người, thấy ai tầm thường, ai cao thượng hơn. Tôi đã được đánh giá cao hơn về phương diện tinh thần. Cũng là một võ ý, bất chiến tự nhiên thành.

Về phần các đối thủ, thì cô có nhan sắc ưa chuộng bằng cấp, xem bằng cấp là trên hết, tôi giới thiệu cho một anh du học từ ngoại quốc về. Cô kia con nhà giàu, ưa vẻ hào nhoáng bên ngoài, tôi giới thiệu cho một anh, nguyên là võ sinh đàn anh cũ, tướng người cao to oai vệ, học trường sĩ quan, ăn mặc lễ phục sang trọng, tua xanh tua vàng lóng lánh quanh cầu vai.

Như thế là tôi có thể tranh thắng dễ dàng không cần phải tốn công sức nhiều. Đúng theo võ ý, dùng một chút sức nhỏ đánh vào yếu điểm còn hiệu quả hơn dùng toàn lực đánh nhiều lần vào nơi khác. Kết quả rõ ràng, chiến thắng về tôi mà không phải cực nhọc, ra những chiêu thức thấp kém như nói xấu, mua chuộc, làm những điều thiên hạ chê cười.

Trong thời gian quen biết tìm hiểu nhau, tôi chưa bao giờ tỏ ra giận lẫy, trách móc, đòi hỏi anh điều gì. Cũng có những lúc, trong lòng tôi buồn giận lắm, nhưng tôi không tỏ lộ ra, vì đâu có lợi gì cho ai mà chỉ thiệt hại cho mình thôi. Vì người ta đến với mình, để tìm an ủi, tìm ấm áp cho tâm hồn, chứ không phải đến để nhìn cái mặt nặng nề, nghe lời trách móc chói tai. Cứ giận lẫy và làm mất vui vài ba lần thì ai cũng chán, lo cao chạy xa bay, bởi mình để lộ cái xấu ra quá sớm.

Không có người đàn ông nào ưa nghe trách móc, chịu đựng những vô lý, những quá đáng của người bạn gái. Cái đó cũng nằm trong tinh thần võ học, không ra đòn bừa bãi, tốn công tốn sức mà không hiệu quả gì, làm đối phương thấy cái sơ hở của mình.

Tôi quan niệm rằng, không đòi hỏi ai phải có bổn phận với mình cả, vì mình đã làm được chi cho ai chưa, mà đòi hỏi người ta phải có bổn phận này nọ với mình. Quan niệm được như vậy, làm cho người chung quanh thấy mình là kẻ biết điều, dễ gần gũi, dễ giao thiệp lâu dài.

Trước khi về nhà chồng, cô Út tôi đến ngủ lại hai đêm, dạy cho làm cách nào để nắm cổ ông chồng, để điều khiển, sai khiến, chỉ huy chồng. Làm sao để phong tỏa kinh tế tài chánh, và quản lý giờ giấc chồng, làm sao để triệt mầm vợ bé, bồ bịch lăng nhăng.

Những điều cô nói, tôi cũng đã nghe nhiều bà lớn tuổi bàn tán nhiều lần, khoe nhau trong những khi ngồi lê đôi mách. Có thể hiểu đại khái là bắt nhốt chồng trong căn nhà tù vô hình, trói chồng trong cái ràng buộc chặt cứng của vợ con.

Tôi không đồng ý quan điểm đó, nhưng không dám cãi. Những điều cô dạy, có vẻ ích kỷ, và theo tôi thì có thể làm cho người chồng thấy đời sống gia đình là tù ngục, không vui và không hạnh phúc bằng cuộc sống độc thân. Tôi nghĩ, mình có bổn phận làm sao cho chồng cảm thấy đời sống gia đình ít ra cũng hạnh phúc hơn cái thời độc thân chút xíu, dù ít cũng được. Ràng buộc quá, và làm mất tự do cá nhân cũng là cách làm suy mòn hạnh phúc lứa đôi.

Khi thành vợ chồng, tôi cố gắng tôn trọng tự do của chồng, tôn trọng những sở thích cá nhân, và cố gắng tìm hiểu những thứ anh yêu thích, và tôi tập thưởng thức những thứ đó. Có những môn triết lý, văn chương, mà trước đây tôi không bao giờ ghé mắt đến, thấy chồng thích, tôi tìm hiểu, cuối cùng tôi cũng cảm thấy thích thú khi thưởng thức.

Tôi đã tìm cách hòa đồng, để có những suy tư, những rung cảm đồng điệu, và do đó đời sống hạnh phúc hơn, phong phú hơn. Không như nhiều bà khác, chồng thích gì thì mặc chồng, mình giữ lấy cái sở thích riêng, không cần lý đến những cái chung, gây mâu thuẫn gia đình, và người chồng phải đi tìm bạn bè để chia sẻ. Sao vợ chồng không chia sẻ cùng nhau, có hơn không?

Dạo đó, tôi thuộc tên tất cả những cầu thủ bóng tròn, anh nào chạy trung phong, anh nào hữu vệ, tả vệ. Chiến pháp 11/11 hay chiến pháp W. Biết tài năng của từng đội cầu. Trong những buổi họp bạn của chồng, khi nói chuyện về đá banh quốc tế, tôi cũng có thể hiểu, và bàn góp vào vài ý kiến ngộ nghĩnh, cho cuộc vui thêm đậm đà.

Có những lúc, tôi để chồng đi chơi một mình, cho anh được tự nhiên. Những khi anh về hơi khuya, tôi không tra hỏi, càu nhàu, mà còn tiếp đón vui vẻ, săn sóc và gắng tỏ ra tin tưởng chồng. Mẹ tôi biết được, la rầy tôi, bảo đừng để cho chồng lờn mặt, không kiêng kỵ gì vợ con. Tôi thì hiểu chồng hơn, đàn ông thường không muốn bạn bè thấy họ yếu kém. Không lẽ trong lúc chưa xong cuộc họp, cuộc vui, đã bỏ ra về vì sợ vợ chờ. Yếu quá.

Một số bạn bè tôi, càng khó khăn khắc nghiệt với chồng, thì bị các ông cố làm cho hoang đàng hơn, để phản kháng lại. Từ đó, chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, làm mất hạnh phúc gia đình. Khi người chồng không tìm được êm ấm dịu dàng của gia đình, thì họ dễ sa ngã, ăn chơi để bù lại.

Một điều quan trọng bậc nhất là tôi không bao giờ tranh hơn thua với chồng. Nếu có tỏ ra hơn được chồng thì cũng chẳng ích lợi gì. Với người ngoài, thì họ cười chê mình dại. Với chồng, thì anh ta cảm thấy khó chịu. Có lẻ không người đàn ông nào muốn lấy một người tài giỏi hơn họ. Nếu có lỡ lấy rồi, thì họ cũng mặc cảm thua sút, làm hạnh phúc gia đình cũng kém đi. Huống chi mình không hơn chồng, mà luôn luôn gắng chứng tỏ là tài hơn, giỏi hơn, tranh thắng thua từng chút một. Được cái gì? Có lẽ, chỉ có mất mát chứ không được chi cả.

Đàn ông, ít ai muốn vợ hơn họ. Nếu có chứng minh được rằng, ông chồng thua mình, thì cũng chỉ vô tình chạm đến cái tự ái, chạm đến cái nam tính của họ mà thôi. Ngoại trừ những hạng đàn ông quá bạc nhược, nhát cáy.

Tôi biết chồng tôi hơn tôi nhiều thứ, mà cũng biết có nhiều thứ chồng không bằng mình, nhưng khi nào tôi cũng chịu nhịn, chấp nhận tôi thua chồng tất cả, để cho tự ái anh được vuốt ve, được thỏa mãn, và tôi biết mình sẽ chiến thắng. Chiến thắng là mưu cầu cho hạnh phúc gia đình được êm ấm hơn, được bền vững hơn.

Khi mình đã chịu thua, thì không ai tranh hơn thua với mình, không cần cãi vã, ồn ào, mất lòng nhau. Vì dù tôi có chứng minh được chồng nói một câu không đúng, tôi cũng chẳng lợi được gì. Chẳng được ai khen, mà e nếu có người biết được, họ lại chê mình thiếu tế nhị, thiếu khôn ngoan.

Nhiều bà, không cần biết mình đúng hay sai, khi nào cũng tỏ ra hơn chồng, điều khiển chồng, sai khiến chồng, không sai khiến được thì khóc lóc, vật vã, làm hành làm tỏi. Đó là những dấu hiệu khơi nguồn cho đổ vỡ, khơi dậy cái chán chường trong lòng người chồng. Để khi không còn chịu được nữa, thì như cái bong bóng nổ tung. Biết nhường nhịn để mưu cầu hạnh phúc, là mình đã chiến thắng rồi, chiến thắng lớn.

Thành tâm mà nói, tôi cũng điều khiển chồng rất nhiều nhưng điều khiển khéo léo, nên chồng tôi không hề hay biết. Anh tưởng chính anh làm, tự anh lấy quyết định. Có gì khó, tôi cứ đặt vấn đề, đặt những thắc mắc, những câu hỏi, và hướng anh về cái kết luận mà mình muốn, anh tưởng chính anh đã nghĩ ra và lấy kết luận. Khi đó, thì tôi đề nghị theo cái kết luận để thi hành. Thế là vui vợ, vui chồng, không mất công bàn cãi.

Cũng có khi, không hướng chồng về được những kết luận mà mình mong muốn, tôi không nóng lòng, cứ tạm thời chấp nhận cái khác, rồi chờ dịp thuận tiện, nêu lại vấn đề, gợi ý. Đồng thời, cũng sẵn sàng chấp nhận thất bại, thì không bực mình, không khổ sở. Đó cũng là một võ ý, lấy sức người làm sức mình.

Trong đời sống vợ chồng, không biết tương kính, thì rất dễ đi đến coi thường nhau. Khi vợ chồng mất sự tương kính, thì hạnh phúc cũng bắt đầu lung lay. Đừng bao giờ chê bai, xỉ vả ông chồng. Khi bị vợ chê, bất cứ chê gì, người chồng sẽ bị tổn thương nặng nề.

Đừng tưởng sau khi xỉ vả người khác, và làm lành nhau rồi, thì họ quên đi những xúc phạm. Bên ngoài thì như đã quên, nhưng như một vết thương khó lành, họ sẵn sàng nhớ lại khi có điều kiện. Kiêng nhất là chê bai về khả năng tình dục, khi đã bị chê, thì không sớm thì muộn, người đàn ông cũng tìm cách xa lánh, vì mặc cảm, vì tự ái. Thêm vào đó, câu hỏi khó trả lời rành mạch:

-"Làm sao biết hay, hay dở mà chê, dựa vào đâu mà so sánh?".

Chê chồng khi chỉ có hai người thôi, đã là sai lầm lớn, chê trước mặt người khác còn tệ hại hơn, gây thương tổn lớn hơn. Có những ông nóng tính, không kềm chế được, làm liều, tát tai trước công chúng, và mặc cho kết quả tai hại vô lường sau đó. Đừng bao giờ xúc phạm đến người khác trước công chúng, chồng cũng như vợ. Tại sao mình biết lịch sự, không dám xúc phạm người khác mà lại không biết lịch sự với chồng.

Các cụ xưa còn nói, xấu chàng hổ thiếp. Làm chồng xấu hổ, thì mình không xấu hổ theo chăng? Phần tôi, thì tôi khen chồng, khen trước mặt, và khen cả sau lưng. Khi chồng làm điều gì sai trái, thì tôi chờ dịp, dịu dàng phân giải trong tinh thần tôn trọng vui vẻ. Đôi khi phải qui tội cho sự thiếu may mắn, hoàn cảnh bất lợi, chứ không phải vì chồng thiếu khôn ngoan, vụng về.

Nhiều bà chê chồng lia lịa, việc gì cũng chê, sai cũng chê, mà đúng cũng chê. Hút bụi nhà cũng chê còn rác, rửa chén cũng chê không sạch, tỉa cây chê không đẹp, đi chợ chê mua thịt không ngon, áo quần chê giặt không sạch, chê làm biếng, chê tham lam, chê thiếu trách nhiệm... Đủ thứ tội vạ.

Trong lúc đó, bà tự cho mình hay, giỏi, thông thái lắm, không lầm lỗi nào cả, hoàn toàn. Ai chê bai bà tí ti thôi, thì cũng đã lăn đùng ra khóc lóc, vật vã, mất ăn, mất ngủ. Mình chê người ta thì dễ lắm, ai đụng đến mình thì như trời đất sập đến nơi. Tôi khen chồng với mọi người, khi khen, tôi thêm niềm tin tưởng, và thấy chồng mình tốt hơn, mình được sung sướng hơn.

Cũng có thể chồng biết vợ khâm phục, nên cố gắng sửa mình cho tốt hơn, cho hoàn hảo hơn, không nỡ phụ lòng tin của vợ. Khen chồng không có hại, mà chỉ có lợi, chê chồng không có lợi, chỉ có hại, hại trực tiếp và gián tiếp, hại trong hiện tại và cả lâu dài về sau.

Nhiều bà chướng kỳ, chướng khủng khiếp, đòi hỏi những điều thậm vô lý, đòi cho được, không được thì dẫy dụa như trời đất sắp tận thế. Không có lợi gì cho ai cả, chỉ làm cho người chung quanh chán ngấy, ngán ngẩm. Đó là những trường hợp của những cô con cưng trong gia đình.

Sau khi lấy chồng, thì phát huy tối đa cái chướng ách, cái độc tài, cái đòi hỏi mọi người phải theo ý cô. Không cần biết sai đúng, miễn sao thỏa mãn cái chướng ách của mình, đôi khi biết mình sai, nhưng vẫn khư khư giữ lấy cái sai trái đó. Các cô này là những người tự hủy hoại nội công, hủy hoại cái hạnh phúc gia đình, hủy hoại mối cảm tình tốt đẹp của người khác.

Nhiều bà cho rằng phong tỏa kinh tế là phương sách hữu hiệu nhất để cầm chân chồng trong gia đình. Không có tiền thì cứ cơm nhà quà vợ, không xoay sở đâu được cả. Ai nắm được kinh tế, thành kẻ mạnh. Nói thế là biết một, mà không biết hai. Vô sản hóa ông chồng không có lợi gì cả, vì kinh dịch có nói: "cùng tắc biến, biến tắc thông".

Các ông đâu có dại khờ chi để trở thành vô sản thứ thiệt. Có cả ngàn cách để các ông thủ một khoản tiền riêng, mà các bà không biết, và chi tiêu của các ông trở thành bí mật, không kiểm soát nổi. Nếu có khi mất tiền, các ông cũng không khai báo, không tỏ ra tiếc, vì sợ lộ tẩy.

Phần tôi, thì thả nổi công quỹ, những việc lặt vặt, chồng cứ tiêu, như tôi tiêu mà không cần hỏi ý kiến nhau. Những chi tiêu lớn, thì cả hai bàn luận, cùng thỏa thuận rồi mới thi hành. Khi có một trong hai không đồng ý, thì tạm hoãn vấn đề trong một thời gian để cho cái thích chín muồi, suy nghĩ chín chắn hơn mới thảo luận lại.

Tôi thường áp dụng chiến thuật hoãn binh. Khi tôi không thích đề nghị của chồng, thì không từ chối ngay, cứ tạm thời nói bằng lòng, nhưng yêu cầu hoãn thời gian thi hành cho đến một ngày nào đó. Ngày ấy, biết đâu chồng tôi nghĩ kỹ lại, rút lui đề nghị, hoặc chính tôi đã suy nghĩ chín chắn hơn và sẽ vui vẻ chấp nhận. Như vậy, khỏi cãi vã, tranh luận nhiều sinh to tiếng, mất lòng nhau, giận nhau. Khi giận thì mất khôn, và làm liều, phạm sai lầm.

Vui vẻ trong gia đình là căn bản của hạnh phúc. Gia đình thiếu vui, thì thành nhàm chán. Có nhiều bà khi nào cũng nhăn nhó, than vãn hết chuyện này qua chuyện khác. Than đau yếu, than thiếu thốn, than trời nắng, than trời mưa. Khi nào cũng triền miên bất mãn. Dù nghèo khó, dù trời nóng, dù trời mưa, thì những lời than vãn trên chẳng thay đổi gì được tình hình cả. Chỉ tạo thêm mây mù bao phủ cuộc sống gia đình thôi. Cứ vui vẻ mà chấp nhận cái mình không thay đổi được, không cải thiện được, rồi bực dọc tự nhiên tan biến, khó khăn như hóa giải, muộn phiền như tiêu tan. Biến những cái bất hạnh, khó khăn thành tiếu lâm. Như cụ Nguyễn Công Trứ nói về cái nghèo của ông: "Cơm ba bữa vô bụng rau bình bịch, tấm chăn thì lạnh làm mền, nực làm gối, đi ra thì quấn làm quần, bốn mùa vui quá thú”. Những lúc gia đình hoạn nạn, khó khăn nhất, là lúc cần có tinh thần hài hước, để bớt căng thẳng, bớt lo âu, làm cho câu chuyện khó khăn, đau buồn bớt quan trọng.

Mình thương yêu gia đình, cha mẹ thế nào, thì ông chồng mình thương yêu cha mẹ gia đình ông ấy như thế đó. Ngăn cản tình thương của chồng đối với gia đình họ là điều thiếu khôn ngoan, thiếu hiểu biết, cái ích kỷ đó khó tha thứ. Không nên ganh tị tình thương.

Nếu chồng vì mình mà bỏ bê gia đình, cha mẹ, thì cũng là một kẻ bất nghĩa bất nghì, chẳng ra gì, chẳng đáng cho mình kính trọng. Cứ nghĩ con trai mình sau này, vì vợ nó, mà lạnh nhạt với cha mẹ, thì cũng đau lòng. Tốt nhất là tranh thủ tình thương cả hai gia đình, xem cha mẹ chồng như cha mẹ mình, anh em chồng như anh em mình. Đem tình thương chân thật ra đãi gia đình chồng, rồi chính mình sẽ được chồng yêu thương hơn, kính trọng hơn. Đồng thời, gia đình chồng cũng sẽ trả lại cho mình tình thương yêu chân thật đằm thắm. Mình sẽ có thêm hai bố mẹ và nhiều anh em.

Tôi biết có bà đối xử tệ với gia đình chồng, bây giờ gặp con dâu ngoại quốc, chúng nó ở cách nhà chừng nửa giờ lái xe, mà có khi cả năm không thăm viếng, muốn thăm cháu nội, cũng xin phép, năn nỉ lắm, chúng mới cho thăm với giới hạn vài ba giờ thôi.

Từ ngày lập gia đình, tôi không còn tập luyện võ nghệ, nhưng vẫn trau dồi võ ý, cái tinh túy của ngành võ thuật. Tạo cho con người một quan niệm sống tích cực để thủ thắng cuộc đời, tìm cho mỗi cá nhân lòng tự tin, công bằng, nhân ái. Thắng cuộc đời chứ không phải thắng ai, và thắng thua là lẽ thường. Thắng không kiêu, bại không nản. Biết chuyển cái yếu thành mạnh, chuyển sức người làm sức mình, biết lấy tám lạng thắng nghìn cân.

Và quan trọng nhất là tinh thần thượng võ, như trước khi ra chiêu thì phải lạy tổ, với ý nghĩa:

-"Thấy bất bình không tha, giúp người hoạn nạn, cô quả cô đơn, lấy công bằng chỉ đạo cho hành động".

TRÀM CÀ MAU.

Đuổi Gà Cho Vợ

Đuổi Gà Cho Vợ

Tràm Cà Mau


Ông cụ Tom ngồi ho sù sụ. Mái đầu ông bạc trắng, tóc lưa thưa, hai vai xuội lơ, và cái mông teo rí trong vùng quần rộng rãi. Ông Tư nhìn cụ Tom mà thương xót nói:

-“Về hưu đi ông Tom ơi. Nghỉ ngơi cho khỏe, ông nhiều tiền dành dụm quá rồi. Tội chi mà đi làm mãi cho mệt?”

Ông cụ Tom cười, nụ cười hiền hòa với cái miệng già, da kéo nhăn nhúm, nói mà hơi trong cổ ra nhiều hơn âm thanh:

-“Tội chi mà về hưu cho mệt. Về hưu, vợ sai làm việc nầy, việc kia, tối tăm mặt mũi, mệt lắm. Đi làm khỏe hơn ở nhà nhiều”

-“Vợ sai làm việc? Thì đừng làm. Bà ấy có đánh đập, có giết chết đâu mà sợ.”

-“Nói thì dễ lắm. Không làm thì còn mệt hơn làm việc nữa. Bà ấy lải nhải cho mà nghe, nhức tai lắm.”

-“Người hùng đệ nhị thế chiến mà cũng thế cơ à?”

Ông cụ Tom cười hóm hỉnh trả lời:

-“Hùng ở đâu, chứ về nhà thì hùng chi nổi.”

Tuổi cao, mà cụ còn sáng suốt, trí nhớ tinh anh. Cụ cần mẫn, chăm chỉ như con kiến. Làm việc không nghỉ ngơi. Bao nhiêu chương trình mới của máy vi tính, cụ biết rành rẽ, và thường chỉ dẫn cho bạn đồng sự trẻ hơn.

Một lần bị gãy tay, cụ mang cái băng vải quàng qua cổ, treo cánh tay trái băng bột lên trước ngực, tay phải lái xe đi làm. Bạn đồng sở hốt hoảng, dục cụ về nhà nghỉ ngơi. Cụ cười nói:

-“Đi làm khỏe hơn các ông ạ.”

Nếu chưa gặp cụ bà, thì người ta tưởng đâu bà là thứ chằng lửa, rồng ăn trăn quấn, đến nỗi ông gảy tay, mà không ưa ở nhà nghỉ ngơi, thích đi làm hơn. Mấy lần đi ăn chung, ông Tư thấy bà cụ cũng hiền khô, nói chuyện vui vẻ. Bà vốn gốc quân đội, về hưu khi ở cấp bậc đại úy.

Ông Tư thường kể cho cụ Tom nghe rằng, về nhà ông không phải làm gì cả. Mọi sự đã có vợ lo lắng, chăm sóc, và chu toàn cho cả. Cụ Tom nheo mắt hỏi:

-“Thế thì mùa Đông, khi đi làm về, vợ anh có cởi giày cho anh, rồi áp đôi bàn chân lạnh vào da bụng ấm của bà, như “bọn dã man” đó hay không?”

Ông cụ Tom bị lính Nhật hành hạ quá khủng khiếp, nên tránh không muốn nhắc đến tiếng Nhật Bản, mà dùng nhóm từ “bọn dã man” để ám chỉ .

-“Đàn bà Việt Nam chúng tôi không làm vậy bao giờ. Nhưng rất thương chồng, chìu chồng, việc gì họ làm được, thì dành lấy mà làm, không biết tị nạnh, không biết phân chia việc nầy anh làm, việc kia tôi làm”

-“Bất công. Thế thì trong gia đình, đàn ông các anh làm việc gì?”

-“Làm những việc mà đàn bà không làm được, và không ưa làm”

-“Cho ví dụ đi!”

Ông Tư cười toét miệng, trả lời:

-“Cưng vợ, đánh đuổi kẽ cướp, đánh quần vợt, xem quyền anh, xem đá banh, chơi cờ tướng...”

-“Thế thì cây cối trong vườn ai cắt? Ai dọn rác, quét lá, ai trồng cây hoa nầy, dời gốc hoa kia theo lệnh của bà?”

-“Cây thì có người chuyên môn cắt. Hoa thì ở đâu, cho nó yên vị nơi đó. Bà có sai bảo dời qua bên nầy, trồng lại bên kia, thì mình cứ lờ tít đi, hoặc lần khân cho qua chuyện thì thôi.”

Ông Jack ngồi ở phòng kế cận, nghe lóm chuyện của ông Tom và ông Tư, vui tai chạy qua góp lời. Ông Jack hỏi:

-“Nầy anh Tư, nếu anh có bà chị vợ, hay em vợ chưa lập gia đình, thì giới thiệu cho tôi đi, tôi cũng mong có một người vợ như vợ anh, thì tôi cũng hy sinh cái đời độc thân nầy đi cho rồi.”

Ông Tư cười nói lớn, như đang không phải đang ngồi trong sở:

-“Thôi ông Jack ơi. Ông đã “tử thủ” được vị thế độc thân trong sáu mươi năm, sướng quá trời, đừng dại dột đi vào con đường mê muội muôn đời của thế gian.”

-“Con đường mê muội?”

-“Ông biết quá rồi, còn giả vờ. Thế là ông chưa nghe câu nói của xứ tôi rằng: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ quay quắt muốn vô”. Người Mỹ cũng có câu “Hôn nhân như cái bẫy chuột, con ở trong muốn ra mà không được, con ở ngoài tìm đủ cách để chui vô.” Nầy, tôi hỏi ông, bây giờ mà về hưu, thì ông còn được lảnh tiền nhiều hơn đi làm, vậy đi làm để cho khổ tấm thân ư? Ông không muốn nghỉ ngơi sau bốn mươi năm làm việc, bốn mươi năm dài vì cơm áo mà để cho cái thân bị buộc ràng?”

Ông Jack thở dài, tiếng thở dài nhè nhẹ:

-“Ở nhà buồn lắm, không biết làm gì cho hết ngày giờ. Đi chơi xa, du lịch một mình cũng buồn, lẻ loi. Có người xúi tôi rủ bạn gái đi chơi xa, mà thấy bị ràng buộc, phải theo ý người khác mất cả tự do, mất vui. Mình độc thân lâu rồi, không quen làm đuôi mấy bà đi chờn vờn trong các cửa hàng mà không có mục tiêu gì rõ ràng cả. Muốn đến nhà bạn bè chơi, thì ai rảnh mà chơi với mình? Đọc sách thì già, mắt kém, đọc lâu đau mắt. Xem phim, nghe nhạc hoài cũng chán. Đi làm là vui nhất, mừng nhất là chiều thứ sáu, biết được hôm sau có hai ngày nghỉ. Cũng lạ, một tuần có bảy ngày nghỉ không vui bằng một tuần chỉ có hai ngày nghỉ thôi.”

Ông Jack ngừng lại một chốc, rồi nói tiếp:

-“Anh thấy ông Moe không? Về hưu chưa được nửa năm, ở nhà bị vợ gây gổ suốt ngày, chán quá, xin trở lại làm việc. Mấy ông bà già không có việc chi làm, suốt ngày dòm mặt nhau, dễ nổi sùng, dễ gây gổ nhau. Một ngày kia, một trong hai người lăn quay ra chết, thì người kia tiếc nuối và ân hận là sao ngày còn sống cứ cắng đắng nhau vì những chuyện không đâu”

Ông Tư nói như gằn giọng:

-“Các ông có thấy chết gục trên bàn làm việc như ông Henry, chết trong thang máy như ông Paul, thì có uổng không? Chưa kịp về hưu thì đã chết, uổng quá. Về hưu là cái phần thưởng quý báu nhất đời sau mấy chục năm làm việc, khước từ cái ân huệ đó, thì có uổng không?”

Rồi cũng đến ngày vui của ông Tư. Ông được nghỉ hưu. Thời gian ngắn ngủi còn lại, ông bùi ngùi tiếc bạn bè, tiếc cái văn phòng nơi ông đã ngồi bao nhiêu năm. Nhưng nỗi vui mừng biết từ nay dứt bỏ mọi công việc hàng ngày, làm ông sung sướng hơn.

Ông Tư về hưu, nhưng bà còn nhỏ tuổi hơn, chưa đủ điều kiện hưu trí. Bà năn nỉ ông, chờ thêm vài năm nữa, cùng về hưu một lần cho vui. Ông không thể chờ, nóng ruột quá rồi. Từ ngày mới tốt nghiệp đại học, vừa đúng hai mươi ba tuổi, đi làm ngày đầu tiên, ông về nhà nói với mẹ: “Biết bao giờ con mới được về hưu hở mẹ?” Mẹ ông cười, bảo ông đừng nói chuyện tào lao. Thế mà cũng vèo một cái, đã đến tuổi về hưu thật. Hai đứa con ông, đã vỗ cánh bay xa theo gia đình, theo công việc làm ăn. Ông không thể dài cổ ra, chờ đợi để cùng bà về hưu một lần, ông mạnh dạn nói với bà rằng:

“Từ nay anh hoán vị cho em, anh ở nhà làm việc nội trợ. Đi chợ, nấu ăn, giặt rửa, chăm sóc nhà cửa, tưới bón vườn tược. Em chỉ đi làm, và chiều về ngồi gác chân xem báo, nghe tin tức trên đài truyền hình. Anh dọn cơm, em ăn xong, anh sẽ lo rửa bát, lau bếp. Em đọc sách, xem thể thao, và đi ngủ. Mọi việc khác anh sẽ lo làm, cho đến ngày em về hưu. Em đóng vai chồng, và anh đóng vai vợ. Mình chơi trò hoán vị vài năm xem sao."

Bà biết tính ông ham vui, thích hài hước, cười gật đầu bằng lòng. Buổi sáng đầu tiên sau khi nghỉ hưu, ông dậy sớm, nấu cho bà một tô cháo gạo tẻ, pha một ly cà phê, một ly nước cam trộn mật, nướng thêm hai lát bánh mì dẹp và cắt mấy khoanh xúc xích. Khi bà rửa mặt xong, ông ỏn ẻn giả giọng đàn bà nói:

-“Mời anh ra ăn điểm tâm kẽo nguội, em đã dọn sẵn rồi.”

Bà háy ông một cái, và mĩm cười, giả giọng đàn ông ồm ồm nói:

-“Bà mầy đảm đang quá. Tôi tốt phước có người vợ giỏi lo toan việc nhà.”

Ông bà cùng ăn sáng. Ăn xong ông dọn bàn, bưng chén dĩa vào bếp. Chạy vội ra, chìa má cho bà hôn trước khi bà leo lên xe hơi lái đi làm. Hai ông bà nhìn nhau và cười hinh hích.

Ông Tư vào giường lại, nằm nghỉ một lúc, rồi vùng dậy, đi một vòng quanh nhà, nhìn lên, nhìn xuống, từ trần nhà đến những góc nhà, tay cầm viết ghi một danh sách việc cần làm trong ngày hôm nay. Ghi được mười bảy mục, việc đâu mà lắm thế nhỉ, ông tự hỏi. Rồi ông ghi thứ tự ưu tiên, việc nào cần làm trước, việc nào cần làm sau.

Trước tiên, ông cầm chổi quơ ngang, quơ dọc cái phòng khách có sàn lát ván đánh dầu bóng. Bụi bay lên mù tung. Ông đùa bụi bặm rác rến dấu dưới gầm ghế dựa, dưới gầm bàn, và các góc khuất lấp. Thế là xong việc quét nhà. Ông quay qua đám bàn ghế, lấy chổi lông gà phang qua phang lại như múa gươm, lâu lâu ông dừng lại, chân trước, chân sau, người nghiêng nghiêng như ở vị thế đang đánh kiếm, rồi vụng về dùng chổi lông gà đi vài đường gươm, mà ông đã quên luyện tập từ mấy chục năm nay. Bụi bay lăn tăn trong không khí, làm ông ho sặc sụa.

Chổi của ông đánh rơi cái bình hoa, nước đổ ra sàn lênh láng. Bình hoa chỉ bị một vết sứt mẻ nhỏ thôi. Ông cắm lại hoa, và lấy lá che khuất chỗ sứt, che rồi, có ai thấy đâu mà sợ. Lại thêm một mục chùi, hút nước sàn nhà. Sau khi chùi vắt hết nước loang trên sàn, thì những nơi khác, cái vết dép ông in rõ mồn-một với dấu dơ bẩn từ trong ra ngoài, từ ngoài vô trong. Thế là ôg phải lau nước lại toàn diện căn phòng, sau khi lau nước, thì phải lau khô. Tìm mãi không có khăn, ông lôi một mớ áo lót cũ ra dùng. Lau xong, thì mồ hôi đã toát, ướt áo, ướt quần. Nhìn lại, còn những mười lăm mục cần làm, mà dường như đã gần trưa rồi. Thế là ông lại thay đổi ưu tiên các việc cần làm. Phải đi chợ trước.

Ông định ghi xuống danh sách những gì cần mua, nhưng nhớ lại, có lần nghe các bà nói rằng, đi chợ thì thấy món nào ngon, rẻ thì mua, không định trước được. Vợ ông đi chợ có bao giờ ghi trước đâu? Thế là ông lái xe vèo ra chợ. Ông định đi một vòng xem có gì ngon, rẻ, và sau khi có cái nhìn tổng quát về hàng hóa trong chợ hôm nay, thì ông sẽ quyết định rõ ràng hơn. Đi đã ba vòng, mà trong đầu ông chưa nảy ra được quyết định nào. Vì thật sự, ông không biết món nào ngon, món nào dở, và giá cả đắt, rẻ ra sao cả. Bí quá, ông cứ mua đại hai cân thịt bò, hai cân thịt heo, hai con gà, hai cân tôm, ba cân cá, và hai con cua to. Nếu có bà nội trợ nào nhìn thấy các món ông mua, thì tưởng đâu ông định nấu cho mười mấy miệng ăn, chứ không phải nấu riêng cho hai ông bà mà thôi. Ông cho rằng, cứ bò thì xào, heo kho, gà nướng, tôm nấu canh, cá hấp, cua thì rang muối. Dễ ợt.

Về nhà, ông thay áo quần, mang tạp dề, đội cái nón đầu bếp trắng cao, cho ra vẻ trang trọng. Ông quyết định nấu canh tôm trước. Nhìn cái gói tôm còn vỏ, ông không biết làm sao mà bóc cho tiện. Thôi thì cứ kiên nhẫn cắt đầu, cắt đuôi, để lại phần thân mà nấu canh. Cắt từng con lâu quá, ông chập ba bốn con làm một mà chém đầu, chém đuôi, chém hăng quá, làm đứt tay, chảy máu. Ông nghĩ, chắc mấy bà nội trợ, có cách nào đó bóc tôm cho mau, chứ bóc từng con, thì biết đời nào mới xong. Hai lạng tôm, ông cắt xong thì còn hơn một lạng.

Bỏ tôm vào nồi để nấu canh, ông lúng túng, không biết phải nêm bằng xì dầu tàu, hay xì dầu tây, hay nước mắm, hay là muối đây. Cả bốn thứ đều là chất mặn cả. Không lẽ ba cái chuyện nhỏ nhặt lẻ tẻ nầy, mà phải kêu điện thoại hỏi các bà? Xấu hổ lắm. Lấy cái trí thông thường ra mà suy luận, ông cứ bỏ một ít muối, một ít nước mắm, một ít xì dầu tàu, một ít xì dầu tây. Thế nầy thì không trật đâu được. Lửa đã cháy bừng bừng, ông hốt hoảng, tự hỏi nấu canh tôm với gì đây? Không lẽ nấu canh tôm suông. Ông mở tủ lạnh, lục lạo, may quá, có trái bầu tươi. Ông vội vã rửa, và lấy dao gọt vỏ. Gọt xong thì trái bầu thành ốm tong teo, hầu như chỉ còn lại phần ruột, mà phần cơm của trái bầu đã dính gần hết vào đống vỏ. Ông cắt thành từng khoanh nhỏ, bỏ vào nồi. Cái nồi đầy vun, và sau một hồi sôi sùng sục, thì ông nhận ra món đang nấu không phải là canh, mà là món xào. Canh thì phải có nhiều nước chứ, đâu phải là sền sệt, toàn cả tôm với bầu. Ông tự an ủi rằng, định nấu canh, mà thành ra món xào, thì cũng chẳng sao. Khi nếm một miếng, thì ông nhăn mặt. Vị giác cũng như khứu giác của ông chưa bao giờ mếm được cái mùi vị lạ lùng như thế nầy, mùi của xì dầu Tây, Tàu và nước mắm trộn lẫn nhau hăng hăng, không dễ chịu chút nào. Ông thì thầm tự phán: “Thất bại lớn”. Đổ món “canh xào” ra dĩa. Mới một món, mà đã hai dĩa đầy, nếu nấu hết thịt, cá nầy thì hai vợ chồng e phải ăn cả tuần cũng chưa hết. Ông cắt thịt bò để xào, thịt bùng nhùng, cứa hoài không đứt, không cắt mỏng được. Ông Tư thay và thử đến bốn con dao khác nhau, mà vẫn rất khó khăn, không cắt được. Đang lúng túng, ông nhìn thấy có cái kéo răng cưa, ông dùng kéo cắt thịt thành từng miếng khối vuông. Mau lẹ, nhẹ nhàng, không có bùng nhùng chạy tới chạy lui. Đã có chút kinh nghiệm khi nấu canh tôm, lần nầy, ông chỉ dùng một phần tư thịt, cho vào nồi, đổ thêm nước, và chỉ dùng muối, không nước mắm, không xì dầu. Ông tưởng nấu càng lâu, thì thịt càng mềm, cứ năm ba phút, gắp một miếng nếm thử, mà ông nhận ra, càng nấu lâu, thì thịt càng dai. Rồi ông không nếm nữa, vì nếu cứ mếm mãi, thì e no bụng mất. Nồi thịt xào thành lỏng bỏng, ông chợt nghĩ, tại sao không đổ thêm nhiều nước, cho nó thành canh, để thay vào món canh tôm mà ông đã thất bại. Để canh ngon, ông cho thêm hai cục xúp viên, và khi nếm canh, thì ông nhăn mặt vì mặn chát. Lại thất bại thêm một lần nữa. Đồng hồ đã chỉ mười hai giờ trưa, ông Tư xới cơm ra ăn với hai món vừa nấu xong. Chưa bao giờ ông có một bữa ăn dở như hôm nay. Cố gắng hết sức, mặt mày nhăn nhó, mới thanh toán được hai chén cơm. Ông lắc đầu, không thể cho bà vợ ăn những món ăn khủng khiếp như thế nầy được. Ông ra vườn, đào lỗ và chôn, đổ cả món xào lẫn canh xuống, vùi đất lại. Phải chôn mau mau, sợ vợ về, biết được thì mất mặt lắm.

Ông trở vào, hấp lại hai con cua, và nấu một nồi nước luộc thịt heo. Thế nầy thì không thể nào hỏng được. Luộc thịt heo, thì phải thành công chắc bắp, không thể nào thất bại được. Nhưng ông lại lầm, thịt heo ông luộc quá lửa, dai nhách, khô khốc và cứng xải. Thôi thì cũng xem như tạm được, không đòi hỏi gì hơn.

Trời chiều đã xế bóng, mà ông mới làm được một phần ba công việc ghi trong danh sách. Thì ra, công việc nhà cũng không phải dễ dàng , mau chóng như ông tưởng. Cũng túi bụi đi chứ, mà cũng chưa đâu vào đâu cả. Ông Tư chạy vội vào phòng tắm, lấy áo quần mặc ở nhà, máng sẵn lên cho bà, lấy khăn tắm, thay cục xà bong mới, và để sẵn chai thuốc gội đầu bên cạnh bồn tắm. Tiếng xe bà đi vào sân nổ rền. Ông chạy ra đón bà, đưa hai tay ra, ôm bà và ỏn ẻn giả giọng đàn bà nói: “Anh của em đi làm về. Anh có mệt không? Tắm rửa sạch sẽ, ra ngồi xem tin tức buổi chiều, em làm cơm xong là ăn cho nóng sốt”.

Trong khi bà thay áo quần, thì ông đã mở vòi, pha nước ấm đầy bồn cho bà ngâm mình tắm. Khi bà Tư vào phòng tắm, thấy nước ấm đã đầy bồn, khăn tắm áo quần đã máng sẵn, bà cười toe toét, và mở cửa chạy ra háy ông một cái dài. Thấy ông đang lom khom cắt thịt heo thành từng lát mỏng. Bà quay trở lại phòng tắm mà không nói gì. Tắm xong, bà xuống bếp để phụ, ông đuổi bà đi, nhái đúng cái giọng xưa kia bà thường hay nói:

-“Lên phòng khách mà nghe tin trong ngày, xem thể thao, đùng làm rộn, để người ta nấu ăn. Chừng mười lăm phút nữa là có cơm đó.”

Khi ông mời bà vào bàn, thì trên bàn đã dọn sẵn ba món: Một dĩa rau sống, một dĩa thịt heo luộc đầy vun, thịt thái lát dày cộm, hai con cua lớn. Bà hỏi:

-“Chỉ có món mặn và rau. Không có canh, không có xào sao?”

-“Hôm nay ăn tạm các món dã chiến. Ngày mai có đủ ba món, canh, xào, mặn. Thường người ta nấu canh, muốn ngon, thì bỏ thêm nước mắm hay xì dầu?”

Bà cười hăng hắc:

-“Anh hỏi thật hay đùa đấy? Ai mà cho xì dầu vào canh bao giờ. Canh thì phải cho nước mắm thật ngon vào. Nghe đâu ở miền Trung, có nơi không cho nước mắm vào canh, vì sợ canh có vị chua. Họ cho mắm tôm vào canh, và khi nào không đủ lượng mắm tôm, thì họ kêu là canh “ỏn”. Không biết “ỏn” là cái khỉ gì nhỉ? Hay là canh không vừa ý, nên ỏn ẻn, xấu hổ?”.

Ông Tư ghi nhận nước mắm và mắm tôm, để lần sau nấu canh. Ăn hết một con cua, bà đã no, không đụng đến món thịt heo luộc lạt nhách, xải và cứng ngắt. Ông Tư cũng mừng. Ăn xong, ông đuổi bà đi lên phòng khách, ông dọn dẹp, lau bàn, rửa chén bát, lau bồn rửa chén, lau sàn nhà, tắt đèn. Ông ra ghế bành ngồi với bà và nói:

-“Ừ, việc nội trợ cũng lu bù lắm chứ? Lâu nay anh đâu biết công khó của em. Em không cho anh phụ việc, cho nên bây giờ làm gì cũng loạng quạng. Theo anh nghĩ, các bà xưa thường không cho đàn ông con trai xuống bếp, cũng là một chính sách ngu dân, để dễ trị, để phải phụ thuộc vào các bà mãi. Hình như mình còn mấy xâu hạt sen hồ Tịnh Tâm Huế của bác Thái cho mấy năm trước chưa dùng . Ngày mai anh sẽ nấu chè hạt sen cho em ăn. Em có nhớ câu ca dao “Thương chồng nấu cháo le le. Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen” không? Ngày mai, em sẽ có chè hạt sen, có cháo le-le mà ăn. Anh làm nội trợ, thì nhất định hai đứa mình tình tứ như trong ca dao.”.

Bà Tư cười, hỏi:

-“Chim le-le đâu mà anh có? Anh định ra ngoài hồ của thành phố bắt chăng? Ở tù đấy”.

-“Làm sao có thì thôi. Em đừng lo”

Ngày hôm sau, ông Tư chạy ra chợ Tàu, mua sáu con chim cút đã làm sẵn, về chặt mỗi con làm bốn miếng, nấu với cơm nguội, hy vọng thành cháo le-le. Ông rửa sạch bốn xâu hạt sen khô, bỏ vào nồi nấu. Nấu cả hai ba giờ, mà hột sen vẫn còn cứng ngắt bên trong. Nấu cho cạn nồi, ông châm thêm nước. Hơi nước bay mịt mù đầy nhà, đọng lại mờ tất cả cửa kiếng phòng trong, phòng ngoài. Nấu mãi từ sáng đến chiều, mà vẫn còn sượng, cứng, nhai trong miệng nghe rộp rộp, chứ không phải bỏ vào lưỡi là mủn tan ra như ông từng ăn chè do bà nấu. Nấu mãi mà hạt sen không mềm, ông hạ lửa, để đó. Định hôm sau nấu thêm một ngày nữa, ông tin rằng dù cho là gỗ lim, nấu mãi cũng phải mềm huống là hạt sen. Nhưng hôm sau, ông nấu liên tiếp thêm sáu giờ nữa, mà hạt sen vẫn không mềm, không tan trong miệng, mà vẫn sật sật. Ông kết luận rằng, loại hạt sen nầy đã hư, đã hóa mộc, không còn ăn được nữa.

Phần cháo le-le, ông nếm thử, thấy lạt nhách, nước cháo lờ nhờ, không mùi vị gì cả. Giận quá, ông kêu điện thoại đường dài cho một cô em họ từ tiểu bang xa. Hỏi cô làm sao cho nồi cháo ăn được. Nhờ cô chỉ dẫn, anh đổ vào nồi cháo nửa lon xúp gà, mấy muỗng nước mắm, và nếm thử, thấy ngon thật, ăn có mùi vị cháo ngay, chứ không phải ngây ngấy. Ông tự biết, chưa thể nấu ăn được, nấu món nào hư món đó. Phải học bài, cho có căn bản mới nấu, chứ không phải cứ tưởng tượng ra mà làm được. Ông lái xe ra nhà sách, mua một lúc năm cuốn sách dạy nấu ăn của Mỹ, Tàu, Nhật, Việt. Ông quyết tâm học cho rành, rồi mới nấu. Ông đem sách dấu dưới gầm kệ, sợ bà thấy. Để có thức ăn buổi tối, ông vào tiệm Mỹ, mua hai phần ăn đem về.

Chiều hôm đó, ông tắt điện, vặn nhạc cổ điển êm dịu, thắp đèn cầy, trải khăn bàn, đem bộ chén đĩa quý ra, cùng với đũa mun, muỗng nĩa bằng bạc. Trên bàn có hai dĩa thịt bò chiên tảng lớn, thêm rau xà lách, đậu, khoai tây nghiền, bánh mì nướng dòn, và xúp cháo le-le. Bà vợ ông tròn mắt ra ngạc nhiên nói:

-“Sang như ăn tiệc tại nhà hàng. Em không ngờ anh giỏi như vậy. Lạ quá nhỉ? Anh nấu được mấy món khó khăn nầy?”

-“Ăn đi, đừng hỏi lôi thôi".

-“Thịt bò chiên mềm và ngọt. Em cũng không làm được ngon như thế nầy. Anh chiên thịt cách nào vậy?”

Ông cười vui, và nói theo kinh nghiệm của những lần đi ăn tiệm, bị bồi bàn hỏi:

-“Thịt bò chiên có ba loại, thật chín, vừa chín, và còn sống. Thật chín thì thịt hơi dai. Vừa chín thì cắt ra thấy còn màu hồng, ăn vừa. Còn sống thì khi cắt, thịt màu đỏ, và còn ứa huyết thanh. Phải biết chọn ngọn lửa cao hay thấp, thời gian chiên lâu hay mau. Thế thôi, dễ lắm”.

Hôm nay ông nhất định dành cho bà một ngạc nhiên thích thú. Nấu phở. Ông đã từng thưởng thức món phở vô cùng đặc biệt của hai ông bạn, ông Hà ở tiểu bang Washington State, và ông Tôn ở thành phố San Francisco. Phở hai ông nầy nấu cùng một công thức, một bí quyết, hai ông dấu nghề, nhưng vì thân tình, nên chỉ nói riêng cho ông Tư nghe mà thôi, còn dặn dò ông Tư đừng tiết lộ bí quyết cho ai nghe. Nước phở của hai ông nầy nấu trong veo, thanh tao, ngọt dịu, không có bột ngọt mà vẫn ngon lành. Đó là: "Nấu phở, là không đổ thêm nước, cho thêm một ít xương gà, dùng đường phèn thay bột ngọt". Ý hai ông nầy nói, khi nấu phở, đổ nước một lần thôi, không châm thêm nước khi nồi cạn. Nhưng cái bí quyết đọc vắn tắt quá, ông Tư hiểu lầm là nấu xương bò, mà không đổ nước thêm vào, xương bò tự nhiên sẽ ra nước như khi nấu bí, nấu bầu. Ông Tư mua cả đống xương bò to tướng, thêm một con gà, một nắm đường phèn, như bí quyết dạy. Cho tất cả vào cái nồi lớn, cao, bắc lên bếp, cứ thế mà nấu. Nấu mãi, dở ra thăm dò hoài mà không thấy nước phở đâu cả. Nhưng ông tin tưởng vào hai ông bạn có tài nấu nướng nầy. Có lẽ nấu chưa đủ lâu đó mà thôi. Ông yên tâm xuống kho sau nhà, tìm vài thứ vật dụng, nhưng chợt thấy cuốn sách về tình dục mà ông cất dấu, không muốn cho bà biết, ông mở ra say sưa đọc. Rồi ông kéo ghế xếp ra nằm xem sách, và quên mất nồi phở đang nấu trên nhà. Bỗng ông ngủ thiếp đi lúc nào mà không biết. Ông thức giấc khi chuông báo động cháy nhà reo om sòm. Khói trong bếp ùn ùn bốc ra từ cửa sổ, cửa lớn. Ông Tư phóng vội vào bếp, tắt lửa, khói đen bốc lên mù mịt từ trong nồi phở, mùi khét rẹt . Ông Tư mở nắp nồi nhìn vào, thấy cháy đen và có thứ nước bầy nhầy lợn cợn. Ông lầm bầm:

-“Cao hổ cốt, nấu cao chứ không phải nấu phở”.

Ông ôm bụng cười một mình, ông cứ nghĩ là vì ngủ quên, nên cạn nước, chứ không phải nấu sai công thức. Cái nồi nhôm như muốn chảy mủn ra dưới sức nóng của lò ga. Ông lại ra vườn hì hục đào lỗ chôn dấu tang tích của thất bại. Chôn luôn cả cái nồi nhôm, cháy xém như thế nầy, thì làm sao chùi cho sạch được, không tội chi mà chùi cho mệt. Ông vội vã xì thuốc xịt khử mùi hôi, xịt đầy nhà. Nhưng không sao trừ hết được. Ông mở toang tất cả các cửa, vặn máy quạt tồi đa để đuổi mùi khét rẹt ra khỏi nhà. Đầu, mặt, tay chân, thịt da ông, áo quần ông đều nặng mùi của lò thiêu xác bên quê nhà. Ông đi tắm, tắm thật lâu, mà ngữi lên da mà vẫn mãi không hết hẵn mùi hôi.

Để có thì giờ đọc sách dạy nấu ăn và nghiên cứu, trong một tuần liên tiếp, ông Tư mua thức ăn từ các tiệm sang và ngon trong thành phố về dọn cho bà mỗi buổi chiều. Ngày nào cũng có thắp đèn cầy, uống rượu nho, bữa ăn đầy cả lãng mạn, tình tứ, hạnh phúc. Ông chăm chỉ nghiên cứu các cuốn sách nấu ăn, gạch xanh gạch đỏ, làm tóm tắt cách nấu, cách dọn cổ bàn, trang trí dĩa thức ăn. Cần mẫn, chịu khó như hồi học thi ngày xưa. Bây giờ ông đem cái óc khoa học thực nghiệm của một chuyên viên kỹ thuật ra áp dụng cho việc nấu bếp. Món nào ông cũng nấu thử trước, làm thí nghiệm với liều lượng nhỏ, xem kết quả, ăn thử, ghi chú phân lượng, ghi chú thành quả, rồi thêm bớt từng thành phần, thêm bớt lửa, thay đổi thời gian nấu nướng, xem kết quả mới, giống như một nhà hóa học điều chế trong phòng thí nghiệm, chứ không phải làm việc nội trợ nấu ăn.

Mỗi món ăn ông dọn ra cho bà, là kết quả của nhiều thử nghiệm, nhiều sách vở gom lại. Càng ngày bà càng ngạc nhiên về khả năng của ông chồng, mà lâu nay bà xem như một loại người vụng về, nấu một nồi nước sôi không chín.

Hai năm liền dành công việc nội trợ của bà vợ, ông Tư trở thành đam mê nghệ thuật nấu ăn. Bạn bè chê ông Tư ham làm việc tủn mủn của đàn bà. Ông cười và nói rằng, có người về hưu thích trồng hoa, xới vườn, cho đau lưng, có người thích nặn óc viết hồi ký để thiên hạ chửi bới, chê bai cho khổ thân, có người ngày ngày chơi bài đánh bạc, làm giàu các hãng sản xuất thuốc trị bệnh trĩ, mỗi người mỗi sở thích, không ai đúng, mà cũng chẵng ai sai. Nhưng cái sở thích của ông, làm cho đời sống sung sướng hơn, hạnh phúc nhiều, được ăn ngon, được khoái lạc.

Trong vòng hai năm, ông nấu toàn những món ăn béo bổ, thịt thà, làm cho cái mặt bà Tư càng ngày càng bành ra theo chiều ngang, chiếc cằm thành ba lớp, thân thể mập mạp, áo quần chật chội, bụng lớn, mông phì, áo quần phải thay đổi hoài. Ông vui vì thành quả nấu ăn, và vẫn thấy bà đẹp trong cái dáng thịt thà đầy đặn, u nần.

Trong lần khám sức khỏe định kỳ, kết quả thử nghiệm cho biết bà Tư bị áp huyết cao gấp rưỡi, liều lượng chất mỡ trong máu gấp đôi con số bình thường. Bác sĩ gầm gừ hăm dọa rằng, nếu không kiêng cử, không tập thể dục, thì có thể bị tai biến mạch máu não, bị đứng tim chết bất thần. Nguy lắm. Ông Tư nắm tay bà mà than:

-“Chính anh đầu độc em, chứ không ai cả. Cứ ăn uống các món béo bổ hoài, mà em không tập thể dục, không hoạt động, thì nguy lắm lắm. Lâu nay, anh vẫn vẫn nhớ và thèm những món ăn dân gian như canh rau muống nấu tôm tươi, rau muống xào tỏi, canh bầu nấu tôm, canh rau dền, canh mướp đắng dồn thịt, các món xào rau, đậu, mướp hương, và mắm chưng, tàu hủ kho tương, nhưng sách vở không dạy các thứ nầy. Cho nên anh nấu toàn các thứ độc địa, không tốt cho cách giữ dìn sức khỏe. Thôi, anh trả lại nhiệm vụ nội trợ cho em. Anh sẽ đốt hết sách nấu ăn, bôi bỏ các cuộn băng nhựa dạy nấu ăn của các đầu bếp trứ danh trên thế giới. Các thứ nầy, cũng độc hại không thua chi cái chủ thuyết chính trị không tưởng trong thế kỹ hai mươi vừa qua. Giết người như chơi".

Buổi sáng, sau khi bà Tư nắm lại quyền nội trợ, bà dọn ra hai tô cháo gạo tẻ ăn với cá bống kho khô. Hai ly trà xanh bốc khói nghi ngút thơm mùi trà đắng. Ông bà Tư xì xụp húp ăn ngon lành. Ông Tư nói rằng, cao lương mỹ vị cũng không ngon bằng. Ông rót thêm trà xanh vào ly cho bà, rồi khe khẻ ngâm nga:

“Tạ ơn còn được sum vầy
Mai sau thiếu vắng rót đầy tiếc thương“.

5 Việc của đời người

5 Việc của đời người



Trong một đời người…những việc mà chúng ta cần làm rất nhiều…nhưng không thể biến tất cả chúng thành hiện thực…Nhưng tôi cho rằng làm việc không nên tham nhiều…chỉ cần làm tốt 5 việc là đủ :
* Việc thứ nhất…Đọc kỹ một cuốn sách. Sách hay có thể làm rung động trái tim của bạn mỗi lần chỉ một cuốn là đủ.
* Việc thứ 2…Nắm vững một nghề…Giỏi một nghề sẽ làm cho cuộc đời của bạn thiết thực hơn…và cũng đủ để nuôi sống gia đình bạn…Đừng xem nhẹ những việc nhỏ mọn…Nhỏ nhưng độc đáo cũng trở thành có giá trị.
* Việc thứ 3…Có một gia đình hòa thuận…Người xưa nói : ” Tu thân…tề gia…trị quốc…bình thiên hạ “… Với số đông…trị quốc bình thiên hạ hơi xa xôi…nhưng xây dựng một gia đình hòa thuận là có thể làm được và hiện thực hơn rất nhiều…Gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội…nếu trong gia đình bạn là một thành viên tốt…thì ngoài xã hội bạn không phải là người quá tệ được.
* Việc thứ 4…Luôn mang những tình cảm tốt đẹp trong lòng…Chỉ cần lòng ta trong sáng thì thế giới nầy mãi mãi tràn ánh nắng mặt trời…Mà biện pháp duy nhất làm cho lòng được trong sáng là có một trái tim biết yêu…trong trái tim đó chỉ chứa đựng tình cảm tốt đẹp mà thôi .
* Việc thứ 5…Làm một người tốt…Đừng coi việc thiện nhỏ mà không làm…đừng coi việc ác nhỏ mà làm…Làm nhiều việc tốt nho nhỏ dấn dần sẽ trở thành người tốt…Thế giới này có thể không cần nhiều anh hùng…nhưng rất cần nhiều những người tốt.
Làm tốt 5 việc bình thường trên đây…cuộc đời bạn sẽ phát ra những ánh sáng kỳ diệu….Có thể cuộc đời bạn không oanh liệt nhưng lòng bạn chân thành…tất cả những việc cần làm bạn đã làm đủ…bạn đã sống đúng với mình…với cả thế gian này.
Một cuộc đời như vậy chẳng vẹn tròn mãn nguyện lắm sao…!
ST

14 Điều Cần Biết Trong Đời

14 Điều Cần Biết Trong Đời


Xã hội cho dù phát triển đến mức nào đi nữa…thì những giá trị truyền thống phương Đông…tức là cội nguồn văn hóa của mỗi dân vẫn cần phải được bảo tồn và trân trọng…Tuy là vốn cổ…nhưng nếu xét về nhân sinh quan đối với con người hiện đại thì dường như không cổ chút nào…hay nói đúng hơn là câu chữ cũ…còn ý nghĩa thực tế vẫn hoàn toàn mới mẻ.
Đây chính là điều đáng bàn luận và suy ngẫm, vì như sách “Minh tâm bảo giám” đã từng nhận xét : ” Người cổ xưa tuy hình dáng như thú…nhưng lòng lại thánh thiện ở trong…Người thời nay tuy hình dáng người…nhưng lòng lại hơn rắn rết…biết đâu mà lường _ Có lòng không có tướng, tướng sẽ tự lòng mà sinh ra…Có tướng mà không có lòng…tướng sẽ theo lòng mà mất đi”. Phải chăng…vì lẽ ấy mà vô số điều khuyên răn của các bậc tiền bối vô cùng hữu ích cho cách đối nhân xử thế…Tựu trung lại, đó chính là những điều như sau:
* – Kẻ thù lớn nhất của đời người…là chính mình.
* – Thất bại lớn nhất của đời người…là tự đại .
* – Ngu dốt nhất của đời người…là dối trá .
* – Bi ai nhất của đời người…là ghen tị .
* – Sai lầm nhất của đời người…là vong thân…tự đánh mất mình .
* – Tội lỗi lớn nhất của đời người…là lừa mình…dối người .
* – Đáng thương nhất của đời người…là tự ti .
* – Đáng khâm phục nhất của đời người…là ý chí vươn lên .
* – Phá sản lớn nhất của đời người…là tuyệt vọng .
* – Tài sản lớn nhất của đời người…là sức khỏe .
* – Món nợ lớn nhất của đời người…là nợ ân tình .
* – Lễ vật lớn nhất của đời người…là lòng khoan dung .
* – Khiếm khuyết lớn nhất của đời người…là kém hiểu biết .
* – An ủi lớn nhất của đời người …là có lòng bố thí .
Sưu tầm .