Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Vẫn tiếp tục cho bài vào blog

Tuesday, July 5, 2011

Điệu Hò ru con sống mãi với tuổi thơ

Điệu Hò ru con sống mãi với tuổi thơ

Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở.

Như mọi miền đất nước trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài, ca dao, hò vè...) mà trong đó điệu hát hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát (6-8) với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là người phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.

Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng tao dùi tao nhớ tao thương

Chỉ với hình ảnh bốn tao nôi nhưng đã chứa đựng biết bao điều đã nói về cuộc sống, về sự hình thành nhân cách của tuổi thơ, của một đời người mà mẹ, mà chị đã gửi gắm trọn vẹn tấm lòng qua câu hò, điệu hát:

Cất lên một tiếng la đà
Cho chim nhớ tổ cho ta nhớ mình...

Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương mình được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm. chan chứa niềm yêu.

Nghe mẹ hát, bé có hiểu gì đâu những nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc mẹ mượn bốn tao nôi để nói với cuộc đời, nói với người thương về một nỗi đắng cay bất hạnh hay nói về nguồn hạnh phúc tràn trề trong cõi người ta.

Có phải trưa nay chị nhớ người thương
Nên mượn cớ ru em để lòng mình thương nhớ
Có phải ngàn năm thương thương nhớ nhớ
Khiến tiếng đàn bầu nghe xé ruột vò gan...

(Nhớ Huế “Tô Kiều Ngân”)

Cũng có khi hồn đất nước đượm màu trong lời ru mẹ, nuôi dưỡng tình tự quê nhà, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca dạy cho ta bài học về tổ quốc:

Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng

Lời ru êm ả, tiếng mẹ, tiếng chị dịu dàng nâng giấc ngủ tuổi thơ bay vào mộng cảnh. Có giấc ngủ tốt, sức khoẻ tăng đều, có hơi thở điều hoà, tâm hồn tuổi thơ thanh thản. Và bé vẫn chưa hiểu gì trong nội dung bài hát. Chỉ có âm hưởng là lắng đọng, là chất liệu tuyệt vời giúp bé bình yên. Và chị, và mẹ vẫn cất lên nỗi đau một thời về thân phận người phụ nữ:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng
Tháng Giêng, tháng Hai anh còn mê tam cúc, yêu lượng
Tháng Ba, tháng Tư anh còn mê mã tượng pháo xe
Em can anh anh chẳng hề nghe
Đầu em đội bó củi nè thảm chưa

Nỗi đau thầm nén vào lời ru và tao nôi vẫn đưa đều trong trưa, trong khuya lặng lẽ:

Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.

Đó là về một nỗi đau của chị, của mẹ trong cuộc tình sầu. Nhưng không chỉ có thế, tình mẹ, tình chị còn dành cho con, cho em nữa chứ. Cái nghĩa thiêng liêng mẫu tử; niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời ru thiết tha:

Mẹ thương con ruột thắt gan bầm
Ví như bông sen díp lại khốn cầm dễ buông
Con ơi đừng khóc mẹ sầu
Cây khô vì hạn mẹ rầu vì con

Mẹ hát, chị ru và có một ngày lớn khôn con hiểu:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

Hò ru con là giai điệu sống bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung những câu hò hàm súc, phong phú đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, những khát vọng, mơ ước tới tương laị..Là tình tự quê nhà dấu yêu giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, về đất đai, xứ sở.

Thương chi bằng nỗi thương con
Nhớ chi bằng nhớ nước non quê nhà
Ru em cho théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón Mậu Tài bán kim

Từ đất đai mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:

Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo

Nội dung hò ru con là bản trường ca bất tận cùa kho tàng văn chương Việt. Có khichị, mẹ hát về nhân nghĩa cuộc đời, có khi hát về đạo lý làm con, về sự thuỷ chung chồng vợ...Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, nội dung câu hò lộ dần ra theo độ tuổi. Càng lớn càng hiểu thêm điều mà mẹ, chị từng gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Ta biết ơn vô cùng giọng hò ru ta từ thuở nằm nôi:

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở. Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều, bóng dáng luỹ tre làng, dòng sông thơ ấụ..tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ ấu thời cho đến lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thẩm thấu, thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết thiêng liêng cao cả ấy.

Mong sao dù bất cứ không gian, thời gian, hoàn cảnh, địa hình... nào, người phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Huế nói riêng cũng khôn khéo dạy con bằng những giai điệu hát ru của quê hương dân giã. Và bằng vốn liếng truyền thống văn hoá của mình mẹ và chị sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm, cho mai ngày lớn khôn sẽ trở thành những người gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho đời nhiều công ích với nhân cách Việt Nam.


Võ Quệ

Như Trái Khổ Qua

Như Trái Khổ Qua


Tác Giả: NguyenThiTeHat   

 "Lạy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ"
 Hai câu nói trên đã được truyền miệng qua các cụ, qua miệng mẹ tôi như kinh tụng hằng ngày, lúc đó tôi chưa hiểu đời, hiểu người cho lắm, thành ra câu nói trên hình như không nhập tâm tôi cho mấy, cho dù trong lòng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lấy một anh chàng ngoại đạo nào đó khi lớn lên.
Ngày xửa, ngày xưa, ngày mà tôi chỉ là một thiếu nữ ngây thơ, thánh thiện, thánh thiện vô cùng để có thể trở thành một nữ tu như bao nhiêu nữ-tu khác trong tu-viện.
Thế nhưng, đời không như là mơ nên đời đã giết chết giấc mơ của tôi, giấc mơ trở thành nữ-tu mà tôi hằng ao ước.
Cũng vì trời không chiều lòng nên tôi đã trở nên Tôi của hiện tại, nghĩa là tôi của những bổn phận, của những trách nhiệm như bao nhiêu người đàn bà chung quanh.
Ngày ấy quen nhau, nhà tôi biết tôi là con chiên ngoan đạo, biết tôi là thiếu-nữ thánh-thiện ngây thơ, biết tôi là nữ-tu không mặc áo dòng nên đã cám dỗ tôi bằng mọi cách, đã bao quanh tôi bằng những chiếc vòng đủ màu sắc làm tôi mờ mắt, làm tôi quên mất những điều tâm-niệm khi tôi trưởng thành.
Nhà tôi lúc ấy chỉ là anh chàng ngoại đạo biết yêu người có đạo nên tôi đoán sau một đêm mất ngủ, sau một đêm tính toán cộng trừ, nhân chia cuộc đời, đã xoay ngược cái kim đồng hồ, xoay hẳn 180 độ để bước trên con đường từ Chùa dẫn đến nhà thờ một cách thật la ngay ngắn, trang nghiêm, đàng hoàng.
Nhà tôi đã tự tham dự những khoá học giáo-lý ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu-Thế mà tôi không hề hay biết, vì cái chiêu bài dụ dỗ của nhà tôi lúc đó nên... "Ngây thơ tôi nào có biết gì, đến khi tôi hiểu thì tôi đã... làm lỡ đời tôi...".
Thật đấy quý vị ạ, chàng lúc đó rất siêng năng đi nhà thờ, rất siêng năng tham dự những buổi tĩnh tâm trong mùa Chay Thánh. Chàng đưa tôi đi hết nhà thờ này đến nhà thờ khác, từ những Thánh lễ cổ-truyền ở nhà thờ Đắc-Lộ đến những buổi giảng phòng ở nhà thờ Huyện-Sĩ, nếu quý vị ở vào địa vị tôi lúc đó chắc cũng như tôi chứ chẳng khác gì.
Sáng Chủ-nhật nào chàng cũng đạp chiếc xe đạp lóc-cóc từ Khánh Hội sang mãi bên Trương Minh Giảng, con đường thật xa để đưa tôi đi lễ.
Một hôm con bé còn đang say sưa ngủ, bỗng bị Mẹ gọi dậy vì chàng của tôi đã đến. Nhìn đồng hồ trên tường... trời ơi! mới có 4g sáng mà chàng đã đến để đưa tôi đi lễ, rõ khổ cho tôi vì chàng chẳng nhớ đến giờ giấc của các Thánh lễ. Tôi, Mẹ nhìn nhau lắc đầu. Mặc chàng ngồi ở phòng khách tôi lên lầu ngủ tiếp mặc kệ Mẹ cằn nhằn, lúc ấy tôi vẫn là con bé thích ăn, thích ngủ nên cái sự "ngoan đạo" quá đáng của Chàng làm tôi bực mình. Những lúc như vậy, tôi có cằn nhằn, thì chàng lại lên giọng đạo đức một cách thật dễ thương:
- Tại anh thích đưa em đi lễ thật sớm, sáng sớm đi lễ mình cầu nguyện Chúa dễ nhậm lời hơn...
Trời ơi! nghe một người ngoại đạo nói như thế làm sao mà không thương cho được? không rung động cho được phải không quý vị? Cái điệu này các Cụ còn bị lầm huống gì tôi.
Đã vậy lúc đó cái gì chàng cũng cho tôi là Nhất, nào là Em ngoan nhất, em hiền nhất và em cũng dễ thương nhất nữa...
Cuộc đời là những gì không trọn vẹn, cuộc đời là những gì không như ý, cho dù tôi vẫn không nghĩ đến chuyện trăm năm gá nghĩa cùng chàng.
Nhưng rồi định mệnh đã đẩy đưa chúng tôi ra đi, đưa chúng tôi đến một chân trời mới. Trước khi đến chân trời mới, chúng tôi đã dừng chân ở đảo Pulau Bidong.
 Ở đây, mọi người đều phải tham gia những công tác của đảo trước khi đi định cư ở một nước khác. Vì có giọng nói ngọt ngào chứ không chua như bây giờ nên lúc đó tôi đã được chọn làm xướng ngôn viên của đảo, với sáng đọc tin tức, chiều đọc bản tin nhắn người vượt biển, trong khi chàng của tôi sau giờ làm việc ở văn phòng, chàng đã học thêm giáo-lý ở một nhà thờ bé nhỏ trên đồi. Cứ thế, gần 3 tháng chúng tôi rời đảo để sang Mỹ với nhiều mộng mơ nơi vùng đất Tự-do mà biết bao nhiêu người đang ước ao đặt chân đến.
Như tôi đã nói, "đời không như là mơ nên đời thường giết chết mộng mơ", thật đúng như câu hát mà tôi thường nghe ngày xưa.
Từ Los Angeles, chúng tôi đi Dallas, từ đó chúng tôi về Lawton bằng một loại máy bay nhỏ như một loại xe bus dưới đất vì thỉnh thoảng phải hạ cánh để bỏ khách xuống. Đến phi-trường Lawton, nhìn quanh thật ngỡ-ngàng, phi-trường vắng vẻ tiêu điều như một phi-trường Pleiku mà tôi đã ghé đến ngày xưa.
Chúng tôi được một Linh-Mục VN ở nhà thờ Lawton đi đón, tôi lúng-túng bước xuống trong chiếc áo dài may trên đảo dùng để mặc trong ngày đi định cư. Gió lồng-lộng, tà áo tôi bay phất phới như bay mất những ý nghĩ đẹp mà tôi đã có trong đầu trước khi đặt chân đến bên này.
Vị LM đưa chúng tôi đến căn nhà mà nhà thờ đã thuê cho chúng tôi trong những bước đầu ở đây. Bước vào trong, tôi thất vọng, chán nản, nhìn giường chiếu, đồ đạc chung quanh làm tôi buồn muốn khóc nhưng không dám khóc vị sợ làm nản tâm hồn chàng.
Cái nóng ở đây không giống cái nóng ở Saigòn nên làm tôi khó chịu, cái quạt nước dưới cửa sổ chạy ầm-ĩ làm tôi trằn trọc mãi. Chàng nằm dưới đất, tôi trên giường, đêm đêm có tiếng dế mèn, có tiếng ếch nhái kêu inh-ỏi làm tôi buồn não-ruột, đã vậy thỉnh thoảng lại có tiếng nổ ầm đâu đó từ một căn cứ quân-sự làm tôi hoảng hốt giật mình, cứ tưởng như mình còn đang ở VN, đang sống trong thời gian chiến tranh pháo-kích.
Một vài ngày sau đó, chàng được rửa tội để chính thức là người có đạo như tôi, để chính thức cùng tôi bước vào nhà thờ một cách đàng hoàng không e-ngại.
Chúng tôi may mắn được nhà thờ chuẩn bị mọi thứ cần thiết mà một đám cưới phải có tại Thánh đường, cũng như tiệc mừng mà bất cứ đám cưới nào cũng có.
 Xúng-xính trong chiếc áo cưới rộng hơn mình đã được những người khéo tay thâu hẹp lại làm tôi cay đắng.
 Trong Thánh lễ, Cha giảng gì tôi chẳng nghe rõ, tôi chỉ biết tôi đang cô đơn, tôi chỉ biết tôi và chàng là 2 kẻ lạc-lõng không người thân. Cha mẹ tôi đó, anh chị em tôi đông lắm, họ hàng tôi thật nhiều, bạn bè tôi cũng thật là đông, nhưng sao không một ai bên cạnh?
 Tôi tủi thân, mũi tôi cay nồng, nước mắt tôi bắt đầu rơi từ từ xuống má, xuống môi. Khi Cha bảo chúng tôi nắm tay nhau, chàng xiết nhẹ tay tôi, cái xiết tay của chàng như an-ủi, như vỗ-về từ nay chỉ còn có tôi và chàng sánh bước trên đường đời đã làm tôi khóc sướt mướt, tôi không kìm được những giòng nước mắt rơi như suối đổ, tôi không kìm hãm được những tiếng nấc nghẹn-ngào tấm tức từ ngày tôi ra đi.
Tôi khóc đến nỗi Cha phải ngừng giảng, mọi người bàng hoàng lo lắng nhìn chúng tôi kinh-ngạc. Tôi khóc như chưa bao giờ tôi khóc, tôi khóc như bị cha mẹ ép duyên... Nhưng rồi, Thánh lễ cũng qua đi, tôi đã là của chàng, chúng tôi là của nhau, mọi người ân-cần đến ôm chúng tôi với những lời chúc tốt đẹp nhất.
 Họ hàng, anh em chúng tôi bây giờ là những người xa lạ, là những người không ruột thịt, là những người chúng tôi chưa hề quen biết, họ đã bao bọc chúng tôi qua sự trìu mến, qua tình con người giữa con người, qua tình anh em cùng một Chúa trên cao.
Tiệc cưới của chúng tôi gồm những món ăn do một nhà hàng Tàu đảm trách mà nhà thờ đã bỏ tiền ra để khoản đãi trong đám cưới của chúng tôi. "Ơn ai mang lại từ trời..." Vâng, ơn ai mang lại từ trời!..."
Sau đám cưới chúng tôi là vợ chồng, sáng sáng đi học anh-văn, chiều thả bộ đến nhà những người VN mới quen biết. Nhưng có những sáng Chủ-nhật trời mưa thật to, mưa tầm mưa tã, không áo mưa, không dù che, chúng tôi đành phải ở nhà đọc kinh. Bởi tôi là nữ-tu không mặc áo dòng nên cảm thấy không yên lòng những sáng như vậy.
 Nhà tôi đã phải ngồi đọc với tôi đúng 150 kinh tức 3 chuỗi tràng hạt trước khi bước xuống giường. Nhà tôi lúc đó ngoan lắm nên bảo sao nghe vậy. Hai chúng tôi cùng đọc, nhưng không biết đọc được bao lâu, được bao nhiêu lần tôi cũng quên không đếm và khi nhớ lại thì nhà tôi đã quên hết mọi kinh, chẳng còn nhớ được kinh nào.
Tôi cũng không còn cái uy của người vợ mới cưới hay của người yêu bé nhỏ như xưa nên nhà tôi hình như quên cả con đường dẫn đến nhà thờ... Nhưng, tôi vẫn là tôi, dù con đường từ nhà đến nhà thờ có xa cách mấy, dù tay bồng tay bế, tôi cũng không bao giờ bỏ một Thánh Lễ nào nên tôi tự hào tôi là người ngoan đạo, cho dù tôi hiểu cái ngoan đạo của tôi không giống với cái ngoan đạo của quý vị, nhưng tôi đã tìm về tôi của những ngày xưa cũ.
Bởi thế, những lúc giận nhau, những lúc giận nhà tôi đến tím gan, tím ruột nhưng vẫn cứ phải bấm bụng làm lành để "chúng mình" cùng nhau dắt con đến nhà thờ tham dự Thánh lễ cho phải phép đạo.
Nhiều lúc ngẫm nghĩ, tôi thấy tôi tức nhà tôi, tức tôi, tức luôn cả đời, chỉ vì cái giáo lý mà nhà tôi học ngày xưa không đủ vững, chỉ vì cái kim đồng hồ của nhà tôi quay ngược quá nhanh thành ra ngày hôm nay tôi mới khổ đến như thế. Đã vậy, những lúc đi nhà thờ, gặp điều gì không vừa ý là về nhà hết ý-kiến này đến ý kiến nọ làm tôi nhức cả đầu, làm tôi phát giận để 2 đứa cãi nhau chí-choé. Những lúc như thế, nhà tôi phân bua:
- Có vậy mà em cũng giận, anh chỉ nói sự thật chứ anh đâu có bôi bác gì mà em nổi nóng. Chúa đâu có bảo mình phải đồng loã với những gì mà mình cho là không đúng đâu? Em rõ là vô lý.
Đấy, nhà tôi là một trong những ông chồng theo đạo vòng vòng như vậy đấy quý vị ạ. Bởi thế, biết tính nhà tôi không còn "ngoan đạo" như xưa nên tôi cũng chẳng dám để nhà tôi ngồi gần ba tôi vào những sáng Chủ-nhật sau Thánh lễ bao giờ, vì ba tôi cũng là người có nhiều ý-kiến, cho dù Ba tôi chẳng thuộc cái loại "Lậy Đức Chúa Trời Ba Ngôi, con lấy được vợ con thôi nhà thờ" như nhà tôi, nhưng sáng Chủ-nhật nào sau khi đi lễ về đều nghe Ba Mẹ tôi cằn-nhằn nhau:
- Khiếp, sáng nay Cha giảng gì mà lâu thế không biết, Ba đếm đúng 120 chữ "Tôi" trong bài giảng của Cha, Cha giảng gì lung-tung, Ba chẳng hiểu gì cả.
Mẹ tôi tức lắm kêu lên:
- Cái ông này rõ hay, chẳng có ai như ông cả, không có lần nào đi lễ về mà đừng có bới móc hay châm biếm, lần nào đi lễ về cũng có chuyện để nói, đi lễ vậy thì ích gì?
Khi tôi nhắm mắt đưa chân đi với nhà tôi trên con đường mà tôi hy-vọng và cứ nghĩ tôi có thể giúp nhà tôi tìm ra chân lý, hoặc cải hoá được nhà tôi theo cái định-lý ngoan đạo mà tôi ước mong.
 Nhưng thật khổ cho tôi với cái đạo tự tâm mà nhà tôi đã tự vạch cho riêng mình. Quý vị không thể nào hiểu nổi những đau khổ của tôi khi phải đương đầu với những chuyện lười biếng của nhà tôi. Nếu có bảo nhà tôi đi xưng-tội, nhà tôi lại oang-oang:
- Anh thấy anh đâu có tội gì mà phải xưng?
Tôi nhăn mặt:
- Sao lại không? này nhé! tội nói dối vợ, tội xạo với con, tội ăn vụng, tội lười biếng, thiếu gì tội phải xưng...
Nhà tôi cười vớt vát:
- Ừ, thì em biết hết tội của anh rồi, em xưng tội giùm anh đi, nhưng nhớ đừng có xưng tội ăn vụng đó, anh không có ăn vụng bao giờ cả, ăn vụng là chết với bà làm sao anh dám.
Nghe nhà tôi nói tức anh-ách. Ngày xưa chưa lấy nhau, nhà tôi đâu có ngại đường xa, dù có phải qua mấy cái dốc cầu vẫn cứ thấy nhẹ nhàng như thường, vẫn cứ năn-nỉ để đưa tôi đi lễ, đi nhà thờ, đi nghe giảng... thế nhưng, khi lấy được vợ rồi thì con đường có gần cũng hoá xa, mà mình thì cứ phải mỏi miệng dịu dànng như Thánh nữ để năn-nỉ ỉ- ôi, lôi kéo để dẫn bằng được "Sa-tăng" đến nhà thờ nhờ Chúa cảm hoá. Nhiều lúc giận quá tôi phải nói:
- Mình kỳ ghê đi, hồi chưa lấy người ta mình đâu có lười như vậy? Lấy được rồi quên hết nhà thờ, nhà thánh. Biết mình như thế, có trải chiếu hoa, có lót vàng dưới chân cũng không thèm lấy mình đâu. Người gì mà lười như vậy không biết nữa. Mai mốt chết, người ta lên thiên đàng đừng có nắm chân người ta đó, nắm chân người ta đạp xuống cho mà coi.
Vâng, đấy là cái sai lầm mà tôi không thể làm lại từ đầu. Đấy là cái vấp ngã mà tôi không thể đứng lên để quay đầu lại. Bởi thế tôi cứ hỏi lòng, lấy phải ông chồng theo đạo vòng-vòng như tôi đã là một vấn đề nhức đầu huống gì lấy phải ông chồng ngoại đạo, mỗi người một bàn thờ, mỗi người một lời kinh thì làm sao hạnh-phúc? thì làm sao hợp ý trong cuộc sống hằng ngày?
Bởi cái lỗi lầm không bao giờ sửa được như một vết chàm in đậm trên da thịt đã đưa tôi đến kết luận sau cùng, nếu sau này, các con tôi lớn lên, chắc chắn tôi sẽ bảo các con đừng nên lấy người theo đạo vòng-vòng như bố và cũng đừng lấy người khác miền như Mẹ mà hãy "Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn"... phải thế không quý vị?...

Monday, July 4, 2011

Tình Như Lá Thu



Tình Như Lá Thu

Tới tháng ba năm nay là bà tròn tám mươi mốt tuổi. Nhưng với mái tóc nhuộm đen nhánh, với hàng lông mày được xâm theo hình lá liễu cong cong, với cặp môi tô son đỏ – màu của sự gợi cảm, người đối diện nghĩ rằng bà chừng bảy mươi lăm là cùng.
Vốn là nhà thời trang nổi tiếng của thành phố Sài Gòn trước đây, bà cố gắng ăn uống điều độ và tập thể dục hàng tuần để thân hình không phì nhiêu cũng không nhão nhét. Trời cũng không phụ lòng mong đợi của bà. Càng nhìn bà, người ta càng kinh ngạc, cứ tưởng thời gian đã quên đi, không hề nhớ tới sự hiện hữu của bà trên cuộc đời này.
Cách đây tám năm, chồng bà mất. Mất chồng ở tuổi bảy mươi ba đúng là một bi kịch. Ban ngày bà loay hoay đi ra đi vào một mình, ban đêm bà trằn trọc không ngủ vì nhớ tiếng ho nhè nhẹ của ông, nhớ tiếng dép lẹp xẹp trên sàn gỗ, nhớ tiếng nước chảy vào ly thủy tinh mỗi khi ông rót trà... Mất chồng ở tuổi bảy mươi ba, bà không khóc lóc như những phụ nữ trẻ tuổi, bà chỉ bàng hoàng trong im lặng, đôi mắt bà ráo hoảnh nhưng đôi môi bà cứ run run như muốn gọi tên ông.
Rồi những ngày tháng lạnh lùng kinh khủng đó đóng chặt lại và trở thành quá khứ sau khi bà gặp ông Luân trong một cuộc tiệc cưới cháu ngoại của người bạn. Hôm đó bà ngồi bên cạnh một người đàn ông có mái tóc bạc được hớt cao gọn ghẽ, có giọng nói chậm rãi nhưng ấm áp, có sự quan tâm chăm sóc đặc biệt tới bà khiến bà cảm thấy lạ lùng trước điều đó. Ông Luân chỉ phục vụ một mình bà, thỉnh thoảng ông gắp thức ăn để vào trong chén của bà, ông hỏi bà ngon miệng không, ông lựa những phần gỏi bắp cải không có ớt vì sợ bà cay, thậm chí ông thận trọng lột vỏ từng con tôm xú luộc rồi đưa bà ăn. Bà cảm kích nên hỏi tên ông, hỏi tuổi ông. Ông không giấu diếm, ông nói ông đã bảy mươi bảy tuổi rồi.
Bà nhìn ông cười, ánh mắt lẳng lơ:
-Bảy mươi bảy tuổi còn yêu được không nhỉ?
Ông Luân cũng nheo nheo mắt nhìn bà, cười đáp lại:
-Sao lại hỏi vậy? Cứ yêu thử đi rồi biết.
Tối hôm đó bà đi lòng vòng trong cư xá nửa tiếng đồng hồ để suy nghĩ thật chín chắn rồi quyết định gọi điện thoại cho ông. Chuông vừa reng lên một tiếng ngắn là ông mở máy trả lời liền, cứ như suốt cả buổi tối ông chỉ làm mỗi một việc là ngồi rình cái điện thoại, đợi nó reng lên là bấm nút “A-lô” ngay. Ông hỏi bà đang làm gì, bà nói bà đang đi bộ trong cư xá. Ông nói ông sẽ đến để cùng đi bộ với bà. Bà không tin lắm, nhưng chỉ cười cười. Vậy mà ông đến thật. Ông đưa cho bà một ly giấy to tướng đựng đầy bắp rang, bà chìa tay cầm lấy và trong một thoáng bà cứ ngỡ vẫn còn đang ở tuổi mười tám đôi mươi. Bà hít một hơi dài rồi ngước lên nhìn ông bằng đôi mắt có hàng trăm vì sao trời đang lấp lánh trong đó.
-Em thấy bắp rang ở đây không thơm như bắp rang ở Sài Gòn.
-Ừ, bắp rang trên con đường Hai Bà Trưng thơm mùi bơ. Anh nhớ mỗi lần đi ngang xe bắp rang bơ là phải dừng lại, mua một gói, rồi vừa đi vừa ăn vì không thể nhịn thèm nổi.
Bà cười khẽ. Giọng cười của bà dù có khàn đi nhưng nghe cũng còn quyến rũ lắm.
-Có những món ăn ngày xưa em thích mê tơi, thí dụ món ốc leng xào dừa, ngày nào em cũng phải ăn một dĩa đầy mới đã, còn bây giờ mới nhìn thấy là ngao ngán liền. Em không hiểu tại sao nữa.
-Vì bây giờ mình trưởng thành hơn, mình hưởng thụ cũng nhiều hơn nên cơ thể cảm thấy không cần thêm nữa. Chỉ mới vài năm trước anh còn khoái ngồi uống bia với bạn bè, tối nào cũng phải một chai ướp lạnh mới ăn cơm được, nhưng từ sau lần anh bị ói ra mật xanh phải vào bệnh viện, nghe nhắc tới bia hay nhìn thấy chai bia là anh xanh mặt liền.
Không khí ban đêm lành lạnh nên bà đi sát vào người ông, nép vai bà bên vai ông, nhưng bà vẫn cố ý đút hai bàn tay vào trong túi áo khoác để có một lần vải ngăn cách giữa hai người. Ông Luân nhận ra điều đó. Ông tìm ngón út của bà và giữ chặt nó một lát trong tay ông. Xuyên qua lớp vải dày của chiếc áo khoác, bà vẫn cảm nhận được sự rung động nhẹ nhàng của người đàn ông có độ tuổi đã chấm tới con số bảy mươi bảy. Bà im lặng, không rụt ngón tay lại, để mặc cho trái tim đột nhiên thay đổi nhịp đập rộn ràng như pháo nổ ngày Tết. Bà cần tình yêu như như đũa có cặp, bà cần một người đàn ông bên cạnh bà như dép có đôi. Bà sẵn sàng thú nhận bên tai ông điều đó mà không cảm thấy xấu hổ.
Ông Luân có tiền hưu, có tiền con cái chu cấp, có tiền tiết kiệm trong ngân hàng nên cứ đến cuối tuần là ông dẫn bà đi ra khỏi thành phố, tận hưởng một không gian vắng lặng chỉ có hai người. Những nụ hôn hiếm hoi ông dành cho bà thật nồng nàn trên trán, trên má, nơi khóe môi. Bà cũng đáp lại cuồng nhiệt, bà ôm ghì lấy đầu ông, vừa hôn vào mép tai ông vừa vò vò mái tóc bạc được hớt cao gọn ghẽ. Ông Luân thích thú trước tình cảm của bà, bấu bấu những ngón tay có móng hình vuông được cắt ngắn vào vai bà. Họ ngồi trên băng ghế đá âu yếm nhau mười lăm, hai mươi phút giữa khung cảnh thiên nhiên lãng mạn, tĩnh mịch và đồng lõa. Tình yêu mà họ dành cho nhau chỉ có vậy thôi, có muốn hơn nữa thì cũng không được bởi vì ở tuổi bảy mươi bảy, khả năng tình dục của ông đã hết rồi – đã chết rồi!
Hai người thuê một ngôi nhà gỗ ở bìa rừng để họ có thể lái xe đến đó bất cứ lúc nào họ muốn. Chiều cuối tuần, ông Luân ngồi bên bờ suối câu cá, bà ngồi bên cạnh nép vào ông, theo dõi từng con cá vô tư lượn lờ qua qua lại lại nhưng chẳng con cá nào tỏ vẻ thích miếng mồi trùn sống đang ngo ngoe của ông. Thỉnh thoảng bà cười tủm tỉm khi thấy ông sốt ruột thở dài vì cá không cắn câu. Bà đặt bàn tay phải của bà lên đùi ông như khích lệ, thấy vậy ông cũng đặt bàn tay trái của ông lên bàn tay bà và giữ thật lâu. Đột nhiên bà nhổm người lên chỉ xuống dòng suối, khuôn mặt bà hớn hở với giọng nói vang vang như xé toạt sự yên tĩnh của thiên nhiên:
-Kìa, cá dính câu rồi kìa anh! Giựt lên đi! Giựt lên đi!
Ông Luân dùng cả hai tay giựt chiếc cần lên cao, miệng nở nụ cười thật rộng khi nhìn thấy một con cá đang vùng vẫy dữ dội nơi đầu sợi dây. Bà mở nắp máy chụp hình ra và chụp ông vài tấm hình cùng với “chiến lợi phẩm”. Sau đó ông vụng về loay hoay gỡ con cá tội nghiệp ra khỏi chiếc lưỡi câu và nhẹ nhàng thả nó xuống nước. Con cá sung sướng quẫy mạnh cái đuôi, lướt sang chỗ khác sau khi bị một phen hoảng hốt.
Hai ông bà sống hạnh phúc với nhau được ba năm thì ông Luân tỏ ý muốn đi du lịch sang Canada để thăm con cháu. Bà vui vẻ để ông ra đi. Nhưng sau đó con cháu ông viện cớ ông đã tám mươi tuổi rồi, sức khỏe yếu kém lại bị thấp khớp nên họ không cho ông quay trở về với bà nữa. Khi nghe ông thông báo tin tức đó qua điện thoại, bà chưng hửng – nhưng đành thở dài cam chịu. Một lần nữa bà chấp nhận cảnh cô đơn, nhưng lần này sống cô đơn ở độ tuổi bảy mươi sáu, ở độ tuổi bà nhận ra mình đang già đi thật nhanh, là điều bà không thể quen thuộc nổi. Tạo hóa đã sinh ra muôn vật sống phải có đôi, có cặp, bà không thể sống trái với quy luật sinh tồn của Tạo hóa. Bà cần một người đàn ông, cho dù người đàn ông đó đang lọm thọm chống gậy ở tuổi tám mươi thì ông cũng vẫn là một người đàn ông!
Trong một buổi tiệc cưới của đứa cháu ngoại của một người bạn khác, bà tình cờ ngồi bên cạnh ông Nguyện và một lần nữa duyên số lại kết hợp hai ông bà với nhau. Tuổi tám mươi nhưng ông Nguyện còn khỏe mạnh, còn lái xe được và đi đứng thẳng thớm chứ chưa đến nổi phải vịn tường lết đi từng bước. Ông Nguyện sống một thân một mình, đám con lớn có vợ có chồng ra riêng hết chẳng thèm ngó ngàng tới cha gì, thỉnh thoảng cuối tuần bọn họ ghé vào thăm ông, hỏi han mấy câu: “Ba có mạnh giỏi không?”, “Ba có cần ăn uống gì không?”, rồi lên xe dông đi mất.
Thấy tội nghiệp ông, bà mở lời đề nghị:
-Anh dọn qua ở với em luôn đi.
Ông nhìn bà, ngỡ ngàng rồi lắc đầu:
-Cảm ơn em, nhưng anh không muốn làm phiền em đâu.
-Phiền gì mà phiền? Coi như anh với em góp gạo nấu cơm chung. Anh nấu cơm thì em rửa chén. Em quét nhà thì anh lau nhà.
Ông bóp bóp bàn tay bà, giọng nói tràn ngập cảm xúc:
-Cảm ơn em. Để anh thu xếp rồi anh sẽ trả lời em sau.
Nhưng rồi ông Nguyện giải quyết theo cách khác, ban ngày ông ở nhà bà, ban đêm ông về nhà ông, họ sẽ sống với nhau không hẳn như hai người tình mà là như hai người bạn, dù sao “tương kính như tân” vẫn hơn “thân quá hóa lờn”. Bà lắc đầu chịu thua, đành phải làm theo quyết định của ông. Nhưng rồi bà lại thấy ý kiến đó hay ho và thú vị. Buổi sáng ông lái xe đến, nhẹ tay mở cửa và bước vào trong nhà cùng với một món ăn điểm tâm cho hai người. Tính bà thích trang điểm kỹ lưỡng cho nên sau khi son phấn lượt là xong bà mới bước ra khỏi phòng ngủ để đón ông. Bà quàng tay ôm cổ ông và đi vào bếp pha cho ông một tách cà phê nóng, pha cho bà một tách sữa ca cao. Nơi bàn ăn, chỗ ngồi của ông phải là chiếc ghế đối diện với bà, ông không bao giờ muốn ngồi ở chỗ khác cho dù đó là chiếc ghế đặt bên cạnh bà.
-Tại sao kỳ cục vậy anh?
-Kỳ cục gì đâu? Tại vì anh thích vừa ăn vừa ngắm em vừa nghe em nói. Nhan sắc của em vẫn còn mượt mà và trẻ đẹp trong mắt anh. Giọng nói của em vẫn còn ngọt ngào và êm ái trong tai anh.
Bà biết ông nói thật. Người đàn ông ở lứa tuổi nào cũng có thể nói dối hoặc nói cho qua chuyện, nhưng khi đã bước qua tuổi bảy mươi, họ chỉ thích nói thật. Bởi vì nếu hôm nay họ không nói thật lòng, biết đâu ngày mai họ chẳng còn cơ hội để làm điều đó nữa.
Bà và ông Nguyện ngồi đối diện nhau, vừa nhâm nhi ăn sáng vừa rủ rỉ nói chuyện. Chuyện tuyết rơi ở New York. Chuyện hoa mộc lan nở tím trên cành. Chuyện mấy con quạ kêu ầm ĩ mỗi khi kéo nhau bay ngang qua mái nhà. Chuyện ông Bill đi lượm chai trong bồn rác để mang đi bán kiếm vài đồng. Họ ăn xong bữa sáng rồi mà câu chuyện vẫn chưa dứt.
Buổi trưa nếu bà làm biếng nấu nướng thì ông đi bộ tới tiệm cơm ở bên kia đường để mua hai hộp cơm mang về. Sau đó ông cầm bịch rác to tướng mang ra khỏi nhà, lững thững đi tới bồn rác ở cách nhà khoảng bốn trăm thước, vừa đi vừa hít thở cho tiêu cơm.
Buổi chiều hai ông bà rủ nhau đi lòng vòng quanh cư xá để tập thể dục. Họ bước chầm chậm trong ánh nắng chiều vàng vọt, trong sự im lặng và tĩnh mịch của buổi hoàng hôn.
-Anh có thấy lạnh không anh?
-Không, em. Anh mặc đủ ấm rồi em.
-Một lát nữa mình ăn tối với cái gì nong nóng nghen anh.
-Nếu em thích ăn mì vịt tiềm thì anh đi mua cho.
-Mì vịt tiềm của tiệm Lục Đỉnh Ký ăn được lắm đó anh.
-Ừ. Lát nữa anh đi mua về cho em.
Ông Nguyện chìu chuộng bà như thuở vẫn còn đôi mươi, còn bà thì mềm mỏng và dịu dàng như cô thiếu nữ mười tám. Họ nói chuyện thủng thẳng với nhau, không cáu kỉnh cũng chẳng giận hờn, cứ hết lòng “tương kính như tân” với nhau. Khi bà mệt thì ông đứng sau lưng bà, bóp vai, bóp lưng. Khi ông mệt thì bà đỡ ông nằm xấp xuống, xoa dầu, cạo gió cho ông. Bà nương vào ông, ông tựa vào bà, họ cần có nhau như đũa phải có cặp, dép phải có đôi, không cần biết ngày mai ngày mốt ai sẽ là người ra đi trước, ai là người khóc ai trước, ai sẽ là người tiễn đưa ai trước.
Sau bữa ăn, bà đứng trong khung cửa sổ nhìn theo ông tay cầm bịch rác to tướng, đi chầm chậm tới bồn rác. Mái tóc ông bạc trắng như cước làm trái tim bà gợn lên chút xót thương. Sống với nhau hơn gần hai ngàn ngày (chỉ là ngày thôi, không hề có đêm) bà nhận được biết bao sự chăm sóc tự nguyện mà ông dành cho bà. Bữa điểm tâm sáng nóng hổi. Bữa cơm trưa nhẹ nhàng với dĩa trái cây ngọt ngọt, chua chua. Bữa ăn tối nóng sốt dưới ngọn đèn chùm màu vàng cùng với một ly rượu chát nhỏ chia đôi. Những hình ảnh ấm cúng giữa ông với bà như cuộn phim quay chậm cứ hiện về rõ mồn một trong trí óc khiến có lúc bà mỉm cười một mình khi vân vê tấm rèm vải trong tay, chờ đón ông đẩy cửa bước vào trong nhà.
Tình yêu của người già mong manh như chiếc lá úa vàng trong mùa thu. Lúc đó những chiếc lá khô quắt queo lại chỉ dính một chút xíu vào cành cây chực chờ một cơn gió nhẹ thoảng qua là rơi rụng lả tả. Bà hiểu điều đó nên rất trân quý tình yêu, tình bạn của ông Nguyện dành cho bà. Đi đâu (đi shopping, đi mua sắm) bà cũng năn nỉ ông đi theo, để bà được nắm tay ông, để bà có thể làm bộ hỏi ý kiến ông về món đồ muốn mua, để bà được hưởng cảm giác bà vẫn là một nhân vật quan trọng, quan trọng nhất trong đôi mắt ông.
Tới tháng ba năm nay là bà tròn tám mươi mốt tuổi. Còn ông Nguyện thì được tám mươi lăm. Già thì già, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc – hạnh phúc hơn một tỷ người khác – cho dù hạnh phúc đó vẫn được họ đếm từng ngày sau mỗi buổi sớm mai thức dậy…

NGUYỄN THỊ BÍCH NGA

Sunday, July 3, 2011

NÓI

NÓI
 

 
Lời nói là y phục của tư tưởng.
- Rivarol.
 
Tiếng nói là hình ảnh của tánh tình.
- Disraeli.
 
Tiếng nói là bông hoa của sắc đẹp.
-Lénon d'Elée.
 
Lời nói là gương mặt của tinh thần.
- Sénèque.
 
Lời nói là hơi thở của tâm hồn.
- Pythagore
 
Người hạnh kiểm, cái miệng nơi tim, kẻ mất nết thì tim nơi miệng.
- A. Wydeville.
 
Lời nói là bộ mặt thứ hai.
- G. Bauer.
 
Câu nói là tiếng của trái tim.
- Châu Hy.
 
Ý kiến con người giống như cái đinh, càng đóng càng khuất dần. Vậy chớ bao giờ tranh cãi.
- A. Dumas (père).
 
Nói ngọt lọt tới xương. Ngọt mật chết ruồi.
- Tục ngữ.
 
Lời nói phải làm đã khát hơn nước mát.
- G. Herbert.
 
Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.
- Tử Du
 
Nói nhiều không phải là trí thức.
- Thalès.
 
Muốn điều khiển phải biết người; muốn biết người phải nghe người nói.
- Detoef.
 
Nói nhiều lỗi nhiều.
- Trung Hoa.
 
Hãy dùng lời nói như tiền bạc.
- Lichtenberg
 
Lời nói thật là lối xã giao tốt nhất, vì nó không hại người kia.
- Tourguenev.

 
 
Ngôn ngữ là phương tiện để diễn đạt ý nghĩ của mỗi người. Không người nào không dùng nó hàng ngày cả. Người câm không nói được thì dùng cử chỉ để thay cho lời nói. Nếu xét một cách thận trọng sẽ thấy ngôn ngữ là cái phát minh lớn nhất và sớm nhất của loài người. Về khoản này, ngôn ngữ được coi là thứ tài sản riêng của mỗi người. Người ta dùng nó trong việc giao tiếp cẩn thận không kém gì trong việc sử dụng tiền bạc (Lichtenberg). Có hiểu như vậy mới thấy, ai biết tiết kiệm tiền bạc là biết tiết kiệm lời nói.
Thế nhưng trên đời này vô số người vung vãi tiền bạc và lời nói một cách thả cửa! Dù sao đó cũng là cái quyền của họ.

Thái độ của chúng ta sẽ như thế nào khi gặp những người ham nói đó?

Như những bài trước đã nói, đa ngôn ngữ cũng là một trong những bản tính tự nhiên của con người. Đó là bản tính thô sơ chưa rèn luyện kỹ, nên còn nhiều tính háo thắng. Đối diện với họ, chỉ cần bình tĩnh một chút ta sẽ thu nhiều kết quả. Có nghĩa là chúng ta quay lại vấn đề "Nghe" và "Nhìn" như đã trình bày ở đây.

Đặt trường hợp chúng ta là người đang nói chuyện, tức là giao thiệp một cách thông thường, chứ không phải nói trước công chúng (vì đó là thuật hùng biện khác nữa).

Sau đây là vài nguyên tắc cơ bản và rất đơn giản:

Không nên tỏ ra mình là kẻ hiểu biết nhiều hơn tất cả mọi người. Nếu bạn thích trình bày một vấn đề gì đó mà không có sự yêu cầu của kẻ khác, thì đối với người nghe sẽ không bổ ích gì cho họ, như vậy có phải nhàm chán cho đôi bên không? Giữa lúc đó mà bạn cứ thao thao bất tuyệt, thì còn tệ hơn người hùng biện trước một bụi cây. Bởi vì trong số người nghe sẽ có người ghét bạn. Bạn tuy biết vậy nhưng cứ nghĩ rằng: "Ta giúp cho họ ý này biết đâu sau này họ sẽ có lợi". Không được! Sẽ không ai tin điều đó, vì bạn không phải là nhà tiên tri. Không chừng đó là cái vạ nữa là khác.
Chắc bạn không quên một chuyện khá đau lòng đã xảy ra.

Cách đây hơn trăm năm, ông Bùi Hữu Nghĩa đang làm Tri huyện ở Trà Vinh, dưới quyền Bố chánh Truyện. Bố chánh ăn của đút lót của bọn Hoa kiều, để cho bọn đó chiếm Láng Thế. Láng Thế là vùng đất đặc ân của triều đình miễn thuế cho dân ở đây. Nguyên trước đây Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn vương đã chạy qua vùng này được dân địa phương giúp đỡ, nên sau mới được ân huệ đó.
Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa nổi tiếng là thanh liêm, liền tập hợp dân vùng Láng Thế lại nói: "Nếu ai lớn hơn vua phê giấy tờ bán rạch Láng Thé cho người Hoa kiều thì các ngươi đành xuôi tay. Còn nếu ai nhỏ hơn vua mà ra lệnh ấy, các ngươi chặt đầu nó cũng không sao!"

Bọn Hoa kiều vẫn cậy thế làm ngang, bị dân Láng Thế giết đi mấy mạng.
Thế là Tổng đốc và Bố chánh làm lệnh gởi ra triều đình Huế và Bùi Hữu Nghĩa bị kết tội tử hình.

Một vị quan thanh liêm toàn quốc ai cũng biết tiếng, vì tấm lòng tốt mà phẩn uất nên có những lời tâm huyết và thiết thực như thế, kết qua bị kết tội tử hình. Cũng may cho ông Nghĩa, án ấy đã bất thành.

Tóm lại, khi cần phải nói (mặc dù không có ai đề nghị) bạn nên nói vài câu tóm gọn là đủ, bởi vì không nói cũng không thiệt hại gì cho ai kia mà.

Lời nói phải dịu dàng, cử chỉ khiêm tốn. Giọng nói của mỗi người biểu lộ ý nghĩ thầm kín bên trong. Thông thường lúc giận thì giọng nói có vẻ hằn học, gắt gỏng. Vì một nguyên cớ gì đó mà chúng ta cần nói chuyện trước tiên là giữ thái độ ôn hòa, dù lúc ấy có sự trái lòng ghê gớm, nhưng hãy cố nhẫn.
Cổ nhân nói: "Nhẫn là đại dũng". Chiết tự chữ nhẫn, kẻ cầm đao muốn chém người khác mà dằn lại được, đó là nhẫn. Huống chi lời nói dịu dàng bao giờ cũng làm mềm lòng người khác hơn là sự phẫn nộ. Một bằng chứng hùng hồn của loài người bao giờ con cũng thương mẹ hơn cha, vì mẹ bao giờ cũng có nét êm ái dịu dàng.

Một thế kỷ trước đây một nhà thơ tài hoa là ông Cao Bá Quát, tánh tình bất khuất, thường có ý khinh thị những người quyền chức mà bất tài, dẫu vua chúa, ông cũng khinh ra mặt. Ông Cao Bá Quát chứng kiến hai vị quan triều ấu đả với nhau, vua Tự Đức đòi ông vào khai rõ sự việc. Ông Cao Bá Quát miệng thuật, tay chỉ chỏ:

- Bên này nói chó (tay chỉ về mình).
Bên kia nói chó (tay chỉ vào nhà vua).
Hai bên đều chó (tay chỉ cả mình lẫn vua).
Họ túm lấy họ (ra bộ).
Thần thấy thế nguy, thần chạy!...

Vua Tự Đức biết Cao Bá Quát chơi xỏ mình nhưng không thể bắt bẻ gì được. Những chi tiết nhỏ nhặt tuy không thấy đâu, nhưng tích tụ lâu ngày cũng đủ thành một án tử hình!

Cho nên khiêm tốn nhã nhặn không phải là sự hèn hạ mà ngược lại.

Nhà thơ Nga, Maiakovski cũng vì sự không tế nhị, ưa khích bác thiên hạ, cuối cùng tự mình bỏ rơi mình. Những năm tiền cách mạng 17, nếu ai công kích chủ nghĩa xã hội thì ông vu cho người đó là ăn cắp, dù đối tượng là một phụ nữ, là một nông dân. Lúc nào ông cũng cho ông là hơn người. Một hôm có một người phê bình thơ ông, nói: "Thơ ngài mang nhiều chất thời sự quá nên khó để đời".
Maiakovski đốp liền: "Anh hãy cố sống đến ngàn năm, chúng ta lúc đó sẽ thảo luận".

Một lần khác, có người chất vấn: "Maiakovski! Ông cho chúng tôi là một lũ ngu sao?"
Maiakovski nói: "Tại sao lại lũ? Trước mặt tôi chỉ có một đứa thôi".

Có một người bất bình về thái độ của Maiakovski nên kêu ông ta nói: "Anh Maiakovski! Napoléon nói rằng từ cái vĩ đại đến cái lố bịch cách nhau chỉ một bước!"
Maiakovski ướm đo giữa khoảng cách từ người ấy đến mình rồi nói: "Đúng! Từ cái vĩ đại (lấy tay chỉ về mình) đến cái lố bịch (chỉ về người kia) chỉ một bước thôi!".

Trong y học người ta chứng minh, người có tánh khí hòa nhã bao giờ cũng thọ hơn người nóng nảy. Đức tánh nhã nhặn khiêm tốn có lợi đủ mọi điều.

Tránh sự cãi vã. Cãi vã khác với tranh luận. Cãi vã mang tính chất cục bộ, lố bịch, mạnh ai nấy nói không có kẻ nghe, luôn dành phần phải cho mình nhiều khi bất công trong ngôn ngữ. Có lẽ ai cũng chứng kiến một lần cãi vã vô ích.
Cứ nhường cho họ thắng, ta không thiệt thòi gì cả.
Nếu lý của bạn càng đúng, bạn càng nên nhịn. Sau này người kia nhận ra cái sai của họ, thì lúc đó bạn càng thấy mình có giá trị hơn.

Tranh luận là một sự "cãi vã" có "trí thức".
Cả hai đối thoại trong một tinh thần hiểu biết.
Tuy vậy, nhiều nhà tâm lý học phương Tây cho rằng không nên tranh luận.

Dale Carnegie trong quyển "How to win friends influence people" có nói một câu đại khái, câu "Mỗi chúng ta đều có một vị thần nắm vận mệnh" là câu của Shakespeare (trong Hamlet), thế mà một người nào đó nói câu đó trong Thánh kinh. Thế là hai bên cãi nhau. Sau này Dale Carnegie lấy làm ân hận, tại sao lại phải tranh luận? Theo ông, họ nói sao mặc họ, không nên đính chánh!

Xuyên qua câu chuyện đó, chúng ta có ý kiến thế nào?

Dale Carnegie là nhà tâm lý lỗi lạc của thế kỷ này, nhận xét sau cùng của ông có tánh cách thực dụng hơn, vì có chút máu Ăng lê.
Đối với người Đông phương thì khác.
Cách đây mấy năm, trong buổi tiệc họp mặt bạn bè, một nhà thơ cao hứng đọc:
 
Cuộc phù sinh có bao lăm,
Nỡ đem ngày bạc mà lầm tuổi xanh.

 
Và ông ta tuyên bố đó là hai câu trong Kiều. Nhưng ông thi sĩ ấy lầm! Một anh bạn ngồi bên cạnh khều ông, nói nhỏ: "Anh dường như nhầm ấy. Hai câu đó trong Nhị Độ Mai". Nhà thơ nhún vai nói lại: "Vậy là anh nhầm đến bình phương". Anh bạn lặng thinh không nói nữa.
Cuối bữa tiệc anh gặp riêng nhà thơ, nhỏ nhẹ nói: "Thưa anh, không phải tôi vô lễ dám sửa sai anh. Tôi biết anh là nhà thơ nổi tiếng lại có tánh lãng đãng.
Trong đám anh em có mặt ở đây, ít ra cũng có vài người biết anh nhầm, nhưng họ ngại mếch lòng nêu không chịu góp ý".
Qua mấy ngày sau hai người đó lại gặp nhau, nhà thơ xuýt xoa cám ơn ông bạn rối rít. Ông nói: "Quả hai câu đó trong Nhị Độ Mai, nếu anh không chỉ giáo, tôi lại tiếp tục làm trò cười cho thiên hạ".

Ta biết đó! Nếu Dale Carnegie thì ông không điên gì nhúng môi để đính chánh việc này, cứ sẵn sàng cho là đúng, trước để lấy lòng, sau dễ kiếm việc làm. Nhưng với chúng ta, tất nhiên theo tinh thần Á Đông, với lòng vô vụ lợi, ta góp ý một cách tế nhị kín đáo, tránh giọng lên lớp hay giọng kẻ cả, và đó là lòng thành thật đối đãi nhau. Nếu đối tượng thẳng thừng khước từ, thì ta đành nhận lỗi và làm thinh vậy. Chưa có gì thật hơn bằng "quả đất tròn", thế mà Galilée đành "rằng vuông thì cũng vâng lời rằng vuông".

Trong khi nói phải biết mình nói gì. Vấn đề này mới nghe tưởng như nghịch lý. Thật ra việc đó rất thường xảy đến cho những người nói nhiều. Họ nói một hồi đi xa trọng tâm vấn đề, cũng bởi họ tìm nhiều câu chuyện để minh họa, và khi giật mình lại thì quên mất "thuở ban đầu".
Cổ nhân thường nhắc chừng "Hãy tự nghe mình trong khi nói", có ý khuyên ta nên kiểm soát trong lúc mình đang nói. Muốn làm được điều đó, ta phải nói chậm và nói ít.
 "Nên đề phòng lúc sướng miệng" (Uông Thụ Chi), câu nói đơn giản đó không phải chỉ cho việc nói mà thôi, mà còn chỉ cho việc ăn uống nữa (Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng ngôn xuất). Ai biết nghe được những lời mình đang nói, mới đáng là người biết nói. Hiểu được lời người khác nói mới gọi là người biết nghe.
Thậm chí người ta còn nghe được lời của người câm nói.

Có lần nhà bác học lỗi lạc A. Einstein nói với nhà kịch câm Chaplin Charlot: "Ngài! Tôi nói rất nhiều mà thiên hạ không nghe được, ngài không nói lời nào mà thiên hạ nghe đến khóc được". Cho nên không phải nói nhiều người ta mới hiểu đâu.

Câu nói không rắc rối, trong sáng và chân thành, nên tranh thái độ châm biếm, cợt nhã, được như vậy bạn đã thành công hơn một nửa trong việc thuyết phục.

Chúng ta để ý những câu tục ngữ mà ta thường gặp "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Không ai sợ bạn hay trọng bạn về những lời đao to búa lớn cả. Thậm chí trong việc dùng mưu trí, lời nói đơn giản người ta càng dễ tin. Một chuyện trong sách xưa kể:

Tôn Tẫn và Bàng Quyên cùng học thầy Quỉ Cốc. Tiên sinh muốn biết đức hạnh và mưu trí của học trò mình, liền bắc ghế ngồi trước cửa rồi nói:
- Trò nào mời ta ra được ngoài cửa, trò ấy sau này có khả năng làm đến Tướng quốc.
Bàng Quyên xin mời trước, Quyên nói:
- Bạch Tổ sư! Bên ngoài kia có rồng chầu phượng múa đẹp lắm!
Tiên sinh mỉm cười:
- Hôm nay là hung nhật (ngày xấu), không có việc đó!
Quyên nói:
- Có Bạch Hạc đồng tử đến mời thầy đi đánh cờ.
Tiên sinh nói:
- Bạch Hạc đồng tử đã mời ta hôm qua rồi.
Quyên lại nói:
- Mời hoài thầy không ra, tôi phải nổi lửa đốt động, xem thầy có chịu ra không.
Mấy câu đó chứng tỏ rằng Bàng Quyên có tâm địa bất nhân lại còn ngoa ngôn và khinh người.
Đến lượt Tôn Tẫn mời tiên sinh. Tôn Tẫn quỳ xuống nói:
- Bạch Tổ sư! Đệ tử không có tài mời Tổ sư từ trong ra ngoài được. Nhưng nếu Tổ sư ở ngoài động, đệ tử sẽ mời được Tổ sư vào trong.
Tiên sinh nghe nói lấy làm lạ, liền sai đem ghế ra ngoài để Tôn Tẫn mời vào. Khi tiên sinh an vị, Tôn Tẫn vỗ tay reo:
- Đệ tử mời được thầy ra ngoài động rồi.
Tiên sinh phục Tôn Tẫn là cao kiến.
Về sau Tôn Tẫn cầm quân nước Tề, bách chiến bách thắng.

Lời nói đánh giá được con người. Nói càng khiêm tốn càng được việc. Có hai người xin việc làm vào buổi tối để kiếm tiền thêm. Một người là sinh viên trường Luật, còn một người nữa thường nhật không có việc làm.
Ông chủ nhà hàng gọi một trong hai người đến hỏi:
- Lâu nay cháu làm nghề gì?
- Cháu là sinh viên trường Luật.
- Cháu học năm thứ mấy?
- Năm cuối của bậc đại học.
Ông chủ tán thưởng:
- Vậy là cháu có tương lai lắm. Làm nghề chạy bàn đêm đâu kiếm được bao nhiêu tiền? Sao cháu không viết báo?
Cậu sinh viên trả lời:
- Cháu có viết nhưng người ta không đăng. Đời bây giờ không quen khó mà đăng cho lọt.
Ông chủ cười nhẹ nói:
- Không phải vậy đâu cháu ạ. Điều cháu nói đó có thể có nhưng hiếm lắm. Ai cũng muốn báo mình bán chạy tất nhiên báo phải chọn đăng những bài hay. Ví dụ ở đây, đâu cần phải quen lớn, chỉ cần người thành thật, lễ phép, nhanh nhẹn.
Vừa lúc ấy ở trong phòng có một cô gái chạy ra, hơi ngạc nhiên chào anh sinh viên:
- Ủa, chào anh Dũng! Sao anh lại đến đây? Bộ uống la de hả?
Cô quay sang giới thiệu với ông chủ:
- Ba! Anh Dũng là bạn cùng một lớp với con...!
Lúc ấy Dũng ngượng nghịu, nói xã giao vài câu rồi ra về.
Bạn có biết sao không? Là vì con gái của ông chủ đang học năm thứ hai trường Luật.
Không nói các bạn cũng biết, người thứ hai kia xin được việc làm.

Qua việc này, nói năng càng khiêm tốn thì phẩm hạnh càng cao.
Người xưa nói: "Năng lực của mình được mười, thì nên bớt lại vài phần". Trong việc chạy bàn cần gì phải khoe trí thức?
Ở những nơi cần chữ nghĩa, bằng cấp to cũng nên nói thực trình độ của mình, còn những nơi không cần, tốt hơn hết không nên khoe chữ, có khi bị hố!

Mấy nét chính nên nhớ:

- Tiết kiệm lời nói như tiết kiệm tiền bạc.
- Không nên tỏ mình biết nhiều hơn người.
- Nếu không nói mà không gây thiệt hại cho ai, thì đừng nói hay hơn.
- Lời nói nên ngắn gọn, trong sáng, không nên châm biếm.
- Lời nói dịu dàng dễ chinh phục hơn sự phẫn nộ.
- Không nên có những lời quá sức mình.
- Nên tránh cãi vã, đôi chối.
- Đừng ham nói nhiều mà lạc đề.
 


(Trích đăng sách: Thuật Ứng Xử Thu Phục Lòng Người, tác giả Chiêm Trúc)

Friday, July 1, 2011

100 simple secrets of happy people

100 simple secrets of happy people
04/05/2009
1. Cuộc sống của bạn phải có mục đích và ý nghĩa
2. Hãy tìm cách để bạn cảm thấy hạnh phúc
3. Không nhất thiết lúc nào bạn cũng phải là người chiến thắng

4. Các mục tiêu trong cuộc sống phải nên đồng hướng và nhất quán
5. Trong từng giai đoạn, hãy biết chọn người thích hợp để so sánh và hướng đến
6. Hãy luôn là chính mình trước những khó khăn thử thách
7. Hãy luôn nhớ: bạn là ai và bạn từ đâu tới?
8. Đừng mất quá nhiều thời gian cho phim ảnh, truyền hình
9. Hãy biết nuôi dưỡng và trân trọng tình bạn
10. Hãy chỉ nghĩ đến một việc trước khi ngủ
11. Hãy biết nhìn ra chân giá trị và ý nghĩa của tình bạn
12. Hãy luôn nuôi dưỡng cho mình một ước mơ
13. Hãy tìm kiếm và đón nhận những ý tưởng mới
14. Hãy bày tỏ cho người khác biết rằng họ có ý nghĩa với bạn như thế nào
15. Khi không chắc chắn, hãy suy xét mọi chuyện theo chiều hướng tốt
16. Biết tự tin vào chính mình
17. Đề cao mình quá khiến bạn không sáng suốt
18. Đôi khi, đừng nên đối mặt với khó khăn thử thách một mình
19. Hãy biết vượt lên thời gian và tuổi tác
20. Biết tìm niềm vui và cách thực hiện tốt nhất cho mọi công việc, dù nhỏ.
21. Không nên quá che chở, bảo bọc cho mình và người thân.
22. Nếu thực sự khao khát và quyết tâm, bạn có thể đạt được những gì mình mong muốn
23. Hãy nhận biết rằng những niềm tin đều có những giá trị riêng
24. Hãy thực hiện những điều bạn đã hứa
25. Sẽ không có người chiến thắng trong những cuộc gây hấn với người thân
26. Hãy biết hòa mình vào niềm vui chung của mọi người
27. Đừng đánh đồng vật chất với hạnh phúc và thành công
28. Mọi mối quan hệ của bạn đều có những giá trị riêng
29. Hãy nghĩ đến hiện tại và tương lai, đừng quá dằn vặt với ý nghĩ "Nếu như..."
30. Hãy biết chia sẻ và làm điều tốt khi có thể
31. Đừng làm tổn thương bản thân và người khác khi mọi việc diễn ra không như mong muốn
32. Hãy biết rèn luyện và giữ gìn sức khỏe
33. Đừng quên rằng những điều tuy nhỏ nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa lớn
34. Bản chất của sự việc xảy ra không quan trọng bằng chính cách bạn đón nhaanj nó như thế nào
35. Biết tạo sở thích chung với người thân
36. Hãy luôn vui vẻ và biết mỉm cười trong mọi hoàn cảnh
37. Tình yêu hay một khát vọng gì khác đôi khi không hẳn là tất cả
38. Hãy chia sẻ cảm xúc của mình với người khác những khi buồn nhất
39. Hãy hiểu rằng hạnh phúc chỉ là một khái niệm tương đối
40. Hãy làm quen với kỹ thuật và công nghệ cao khi có thể
41. Đừng hướng quá nhiều suy nghĩ đến những người và những điều khiến bạn tổn thương
42. Giữ mối liên hệ chân tình với những người thân
43. Biết quan tâm đến sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của bạn
44. Biết quan tâm đến sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của bạn
45. Biết tận hưởng những gì bạn đang có
46. Khi buồn, hãy cố gắng tập trung suy nghĩ đến những công việc cụ thể mà mình thích
47. Hãy dành một chút thời gian giúp đỡ những ngời xung quanh
48. Hãy đừng quá tự lên án hay trách cứ bản thân
49. Hãy là một sứ giả hòa bình
50. Hãy quan tâm đến những gì xung quanh bạn
51. Đừng đánh đổi những giá trị niềm tin của bạn chỉ nhằm đạt được mục tiêu
52. Đừng sống bằng mặt và không bằng lòng
53. Ngủ sâu và ngủ đủ giấc sẽ cho bạn cảm nhận tốt về cuộc sống
54. Đừng quá tiết kiệm, hãy mua sắm những gì bạn thích
55. Hãy cố gắng hoàn tất một việc gì đó mỗi ngày
56. Hãy biết linh hoạt và năng động trong cuộc sống
57. Hãy nghĩ rằng mọi biến cố hay thất bại chỉ mang tính tạm thời
58. Đôi khi cần phải biết tự hào về chính bản thân mình
59. Hãy tham gia vào một nhóm bạn có cùng sở thích
60. Hãy luôn là người lạc quan và tư duy tích cực
61. Mọi chuyện có thể sẽ kết thúc, nhưng bạn sắn sàng đón nhận. Và biết đâu đó lại chính là một sự khởi đầu mới mẻ
62. Hạnh phúc hay bất hạnh tùy vào cách bạn nghĩ
63. Hay luôn mang theo giấy bút của tâm hồn
64. Hãy hiểu khi bạn giúp đỡ mọi người là bạn đang giúp đỡ chính mình
65. Đừng thường xuyên phê phán, chỉ trích người thân và bè bạn
66. Biết lúc nào nhìn cây và biết lúc nào nhìn thấy rừng
67. Hãy quan tâm tới nhứng người gần bạn
68. Hãy luôn mở lòng với những người xung quanh
69. Hãy cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống như nó vốn có
70. Hãy nhớ rằng quyền lựa chọn luôn thuộc về bạn
71. Không nên quá cứng nhắc, nguyên tắc trong giao tiếp và cả trong cách nhìn
72. Hãy cố gắng tìm cơ hội thực hiện những gì bạn chưa đạt được
73. Chính những giây phút đắm mình trong âm nhạc là lúc bạn giải tỏa những lo âu, muộn phiền
74. Hãy làm những việc hợp sở trường của bạn
75. Hãy để những mục tiêu dẫn đường banj
76. Hãy tìm cách nhìn nhận để trở nên yêu thích và say mê công việc hiện tại
77. Tính khôi hài và sự hồn nhiên sẽ giúp bạn trẻ trung hơn
78. Hãy tin rằng ngày mai là một ngày mới và mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn
79. Đôi khi nên hồi tưởng lại những ký ức đẹp
80. Sau khi đã cố gắng hết mình, đừng quá bận tâm vào những việc chưa làm được
81. Đừng nhìn vào thảm kịch đã qua, hãy hy vọng và hướng đến tương lai
82. Hãy tạo cho mình một sở thích
83. Đừng nên ghen tỵ với những mối quan hệ của người khác
84. Hãy dành thời gian để thích ứng với mọi sự thay đổi
85. Nên tập trung vào những gì thật sự có ý nghĩa đối với bạn
86. Mọi chuyện đều có thể xảy ra và không có gì là tuyệt đối cả
87. Hãy nhận ra, nâng niu và trân trọng những điều bình dị
88. Chính bạn, chứ đừng để người khác đặt ra mục tiêu cho bạn
89. Hãy sống thật với chính mình
90. Nên nhớ rằng không hề tồn tại bất cứ một quy tắc nào chuẩn mực cả
91. Hãy dành thời gian đọc những cuốn sách hay và ý nghĩa
92. Hãy cố gắng hoàn tất những việc bạn đang làm
93. Hãy luôn nhớ- bạn có ý nghĩa với nhiều người xung quanh
94. Đừng để thành công của người khác làm bạn mất phương hướng
95. Hãy luôn nhớ mọi việc bạn làm đều có mục đích và ý nghĩa
96. Dù đã có những lỗi lầm không thể khắc phục được, nhưng sự nhìn nhận chân thành sẽ giúp bạn thanh thản hơn
97. Hãy nhớ rằng hạnh phúc luôn ở phía trước và những gì đẹp nhất trong đời bạn vẫn chưa trải qua
98. Hãy dũng cảm và biết thay đổi cách nhìn đúng lúc để có được hạnh phúc thực sự
99. Trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống, một tình yêu đích thực sẽ luôn là nguồn động viên lớn lao
100. Bạn đang cảm thấy bất hạnh! Bạn sẽ làm gì để hạnh phúc? Chính suy nghĩ của bạn quyết định tất cả- ngay vào lúc này!
(Sưu tầm)

Thursday, June 30, 2011

Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất.


Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất.
 
 
....Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc,  làm việc dễ dàng. Khi già tình yêu cũng không  còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì  thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.
Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy. Nhiều người  trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.
Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ  chồng cũng có khi  bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai,  khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau,  không gây gổ sao được?
....Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác.  Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.
Lúc nầy, không  còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó  đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.
Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.
Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng ngĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như  đi chơi, chứ không phải "đi cày" như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì  về nhà nghỉ ngơi.
Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này?  Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn. Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống  trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi ...
Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao?  Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi...

Lòng ái quốc ! Tại sao không ?

Lòng ái quốc ! Tại sao không ?

*Thà làm qu*ỷ* nước Nam / Còn hơn làm vương đất Bắc . (Trần Bình Trọng)* Câu
nói nổi tiếng của danh ttướng nhà Trần đã trở thành một trong những biểu
tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt, bất cứ một
học sinh nào khi tuổi còn thơ cũng cảm thấy tự hào khi học trang sử đó.
Chính các thầy cô đã dạy dỗ chúng tôi lòng yêu nước, chính các bậc cha mẹ đã
giáo huấn chúng tôi lòng yêu nước,chính các bậc tiền nhân đã hun đúc chúng
tôi lòng yêu nước. Vậy, hôm nay tại sao
không ? Hãy lật lại lịch sử Việt Nam 4000 năm qua.
*Năm Quý Mão 43, Hai Bà Trưng* khởi binh chống lại quân
Hán<http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1n>,
lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê
Linh<http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AA_Linh>và tự phong là nữ
vương. Sau khi khởi nghĩa bị quân Hán của Mã
Viện <http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Vi%E1%BB%87n> đánh bại, tương
truyền vì không muốn bị làm nhục, Hai Bà đã nhảy xuống Hát Giang tự tử.

Đó là sự thật.
*Năm 248, Bà Triệu *lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống xâm lược của quân Đông
Ngô<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%B4ng_Ng%C3%B4&action=edit>,
do Lục Dận, thứ sử Giao Châu
<http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_Ch%C3%A2u>chỉ huy. Nhiều nghĩa binh
đã tử trận vào năm đó. Theo sử sách, bà chống đỡ
với quân Đông Ngô được 5-6 tháng thì phải lui về xã Bồ Điền và cùng đường tự
tử. Khi ấy Triệu Thị Trinh mới 23 tuổi. Cũng giống Trưng Trắc và Trưng Nhị,
Triệu Thị Trinh quyết không để bị khuất phục. Chết, nhưng không nhục.

*“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá
kình<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A1_k%C3%ACnh&action=edit>ở
Biển
Đông <http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90%C3%B4ng>, đánh đuổi
quân Ngô<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%B4ng_Ng%C3%B4&action=edit>,
giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì
thiếp<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%AC_thi%E1%BA%BFp&action=edit>người
ta!”
*

Câu nói bất hủ của người con gái anh hùng của dân tộc Việt đã tỏ chí khí mà
ngàn sau dân Việt mãi còn kính phục.

*Năm 938, Ngô Quyền* đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết
thúc 1.000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.

Đó là sự thật.
*Năm 1075-1077*, *Lý Thường Kiệt* đánh bại quân nhà Tống, viêt nên bài “Thơ
Thần” bất hủ nói rõ chủ quyền bất khả xâm phạm của đất nước:

*Nam quốc sơn hà Nam đế cư, *
*Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. *
*Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, *
*Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.*

Đó là sự thật.
*Thế kỷ thứ 13,**Trần Hưng Đạo* ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Tháng 12
năm Giáp Thân 1284<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1284&action=edit>,
hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần
Nhân-Tông<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%A7n_Nh%C3%A2n-T%C3%B4ng&action=edit>,
đại binh Thoát Hoan<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tho%C3%A1t_Hoan&action=edit>tiến
đánh Chi
Lăng <http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi_L%C4%83ng&action=edit>,
Hưng
Đạo Vương<http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0ng_%C4%90%E1%BA%A1o_V%C6%B0%C6%A1ng>Trần
Quốc Tuấn lui quân về Vạn
Kiếp <http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A1n_Ki%E1%BA%BFp>. Vua Nhân-Tông
thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo
Vương<http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0ng_%C4%90%E1%BA%A1o_V%C6%B0%C6%A1ng>v
Hải
Dương <http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_D%C6%B0%C6%A1ng> mà phán
rằng

*”Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa
bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?” Vương tâu: “Bệ hạ nói
câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn-Miếu Xã-Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng,
xin trước hết hãy chém đầu thần đã!”*

Đó là sự thật.
*Thế kỷ 15*, *Lê Lợi* chiến thắng quân Minh. Triều đình nhà
Minh<http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Minh>,
vốn rất muốn xâm lăng Đại
Việt<http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t>,
đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà
Trần<http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n>để đưa quân
tràn vào đất Việt năm
1407 <http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1407&action=edit>. Hồ Quý Ly
liên tục thất bại và đến tháng 6 <http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_6>năm
1407 <http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1407&action=edit>, thì bị
bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên
Trừng<http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Nguy%C3%AAn_Tr%E1%BB%ABng>và
Hồ
Hán Thương<http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_H%C3%A1n_Th%C6%B0%C6%A1ng>.
Vương triều Đại Ngu <http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Ngu> sụp
đổ. Nhà Minh thực hiện chính sách xoá bỏ nền văn minh sông Hồng bằng các
cách như đốt, phá và chở về Yên
Kinh<http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Y%C3%AAn_Kinh&action=edit>tất
cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập,
thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận.

Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng
phất cờ khởi nghĩa. Tự xưng là Bình Định Vương và *kêu gọi dân Việt đồng
lòng đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước.* Lê Lợi chiến thắng quân
Minh, trở thành vị vua đầu tiên của nhà hậu Lê. Bản thiên cổ hùng văn “*Bình
Ngô Đại cáo*” của đại thần Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự
cường của dân tộc Việt.

*Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân*
*Quân điếu phạt trước lo trừ bạo*
*Như nước Đại Việt ta từ trước*
*Vốn xưng nền văn hiến đã lâu*
*Núi sông bờ cõi đã chia*
*Phong tục Bắc Nam cũng khác*

Đó là sự thật.
*Thế kỷ 18, Vua Quang Trung *đại phá quân Thanh.
Cuối năm 1788 <http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1788&action=edit>,
vua Thanh Càn Long <http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0n_Long> sai Tổng đốc
Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, huy động từ lưỡng Quảng, Vân
Nam, Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù
Lê<http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA>,
vào chiếm đóng Thăng Long <http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C4%83ng_Long>.

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu
Thân<http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%ADu_Th%C3%A2n>(22
tháng 12 <http://vi.wikipedia.org/wiki/22_th%C3%A1ng_12> năm 1788), Nguyễn
Huệ xuất quân tiến ra Bắc
Hà<http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0ng_Ngo%C3%A0i>.
Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng
đế<http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_%C4%91%E1%BA%BF>,
lấy niên hiệu Quang Trung, *chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đập tan hơn
20 vạn quân Thanh, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn sau thảm bại trận Ngọc Hồi,
Tôn Sĩ Nghị phải bỏ ấn tín cuốn cờ mà chạy.*

Đó là sự thật.
*Thế kỷ 20*, năm 1979, Trung Quốc xâm chiếm biên giới phía Bắc, quân đội
nhân dân Việt Nam đã đánh bật âm mưu bành trướng bá quyền của Bắc Kinh.

Đó là sự thật.
*Những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21*
*Ngày 30-12-1999, Hiệp định ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc đã làm nóng
lòng hầu hết những người Việt Nam còn nghĩ đến quê hương đất tổ khi Ải Nam
Quan không còn trên lãnh thổ Việt Nam. *

Những ngày đầu tháng 12-2007, Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc lập
thành phố Tam Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên Biển Đông, trong
đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đứng trước việc Trung Quốc chiếm
Hoàng Sa và Trường Sa, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao “nói lên tình hữu nghị”,
*ngày 9-12 dân chúng Việt Nam biểu tình phàn đối việc xâm chiếm Trường Sa,
Hoàng Sa, đại diện chính quyền sợ hãi thanh minh “đó là tự phát, nhà nước
chưa cho phép”.*

*Còn hôm nay, những ngày tháng của năm 2011 ngư dân Việt bị Tàu Trung Quốc
bắn giết chính trên hải địa của mình, tàu dầu khí Việt Nam bị cắt thiết bị
chính ngay trong thềm lục địa Việt Nam, lẽ nào chúng ta cũng chỉ im lặng cúi
đầu?*

*Sự thật là: Trong thế kỷ 20, 21 chúng ta đã nhiều lần lùi bước, Trung Quốc
nhiều lần lấn lướt coi khinh, phần đất của dân tộc mà cha ông ta đã đổ bao
xương máu gìn giữ nay có nguy cơ không còn nữa. *

*Đó là sự thật. *
*Đã đến lúc chúng ta không thể khuất phục.*
800 năm trước, Trần Quốc Tuấn đã từng viết nên bài “Hịch tướng sĩ” khuyên
răn các binh lính học tập, rèn luyện võ nghệ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến
Nguyên Mông lần thứ 2, nội dung áng hùng thư đó, ngày nay đọc lại sao vẫn
còn nhiều điều cho ta suy nghĩ: *“… **ta cùng các ngươi sinh ở thời nhiễu
nhương, gặp phải buổi gian nan, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt
nạt tổ phụ… Ta đây, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt
đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân
này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng… Nay
các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không
biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để
hiến ngụy sứ, mà không biết căm…” *

Ngày nay, nước ta có phải vậy không?
Bài viết này, không phải hô hào dân ta ngay lập tức phải xông pha chiến đấu
giành lại Hoàng Sa – Trường Sa, đó là việc lâu dài, cần có thời gian xây
dựng binh lực hùng cường. Đất nước là chung của mọi người, không của riêng
ai.

Bài viết này, chỉ mong góp thêm tiếng nói ủng hộ hành động yêu nước của tuổi
trẻ Việt Nam. Lịch sử 4000 năm đã minh chứng, ta mạnh địch lùi, ta lùi địch
sẽ lấn lướt.